Anh Hậu soạn thảo và in văn bản cho dân bằng máy vi tính cũ

Lấy tiền bán tôm mua máy vi tính

Anh Danh Hậu (40 tuổi, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng ấp Giồng Kè, xã Bình Giang, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang) kể, anh sinh ra trong gia đình nghèo, học đến lớp 8 thì nghỉ. Lớn lên, anh vào chùa tu theo phong tục người Khơme. Tu được 5 năm, anh hoàn tục, cưới vợ. Ban đầu khó khăn, vợ chồng anh mượn vốn đi mua rau cải về bán lại. Việc mua bán khá thuận lợi, mấy năm sau vợ chồng anh Hậu đã dư dả. Nhưng sau đó, anh bị bạn hàng giật nợ.

Thấy nếu tiếp tục nghề này sẽ phá sản nên còn bao nhiêu vốn, vợ chồng anh vét hết đi mua đất. Năm 2011, anh Hậu mua 7 công đất rừng phòng hộ ven biển với giá 40 triệu đồng/công, rồi thả tôm sú vào nuôi quảng canh. Anh Hậu chia sẻ, việc nuôi tôm chỉ cần thả giống, không phải cho ăn. Tuy nhiên, khi thu hoạch thì lúc có lúc không. Có vụ anh bỏ túi vài chục triệu đồng, nhưng cũng có vụ lỗ tiền tôm giống, trắng tay. Do vậy để lo ăn học cho 2 con, vợ anh Hậu phải nuôi thêm gà, vịt.

Vuông tôm khi được, khi mất mùa của vợ chồng anh Hậu 

Năm 2012, anh Hậu được bầu làm Trưởng ấp Giồng Kè. Vợ chồng anh cất được căn nhà nhỏ cạnh biển. Anh Hậu kể, ấp Giồng Kè nằm cách xa trung tâm xã. Do địa bàn xứ biển nên việc đi lại của người dân gặp khó khăn, tốn kém. Con đường hành lang ven biển Tây và những tuyến đường khác ở ấp nắng bụi mưa lầy. Mỗi lần giao dịch giấy tờ, dân trong ấp phải đến xã cách nhà hơn 10km. “Những năm đó, hễ đi đâu tui cũng mang cái mộc đỏ kè kè bên mình. Để khi bà con cần thì mình ký tên, rồi đóng dấu luôn. Chứ để bà con tìm đến nhà tui rồi mới ra xã nộp giấy tờ, mà đường sá khó khăn thì tội lắm”, anh Hậu nói.

Xuất phát từ nhu cầu của dân, năm 2013, anh Hậu lấy tiền lời từ đợt bán tôm sú mua máy vi tính cũ với giá 3,6 triệu đồng. Xã Bình Giang có 10 ấp, thì Giồng Kè là ấp đầu tiên có trưởng ấp sử dụng máy vi tính. Anh Hậu tâm sự: “Hồi ấy ở cái xứ “khỉ ho cò gáy” này, có ai biết đánh máy vi tính đâu. Cho nên, sau khi mua máy về nhà, tui phải chạy ra học cán bộ xã. Sau khi tui biết đánh chữ thì lại không có máy in. Chờ chừng 5 tháng sau, tui mới lấy tiền lời từ bán tôm đợt sau đi mua máy in giá 1,8 triệu đồng. Lúc đó tui mới làm đơn giúp được bà con”.

Theo anh Hậu, anh mua máy tính và máy in vì thấy thực tế bà con trong ấp còn khó khăn hơn mình. Anh lại là trưởng ấp, phải giúp dân. Hiện trong ấp còn gần nửa dân số là hộ nghèo và cận nghèo (251/575 hộ). Những năm ấy, số hộ nghèo của ấp còn cao hơn. Người dân tộc Khơme chiếm hơn 60%. Đa phần người dân sống bằng nghề biển, nuôi tôm và trồng lúa, dân trí thấp… Điều kiện sống của dân ấp Giồng Kè khó khăn, mà mỗi lần làm đơn từ, bà con phải đến xã. Rồi lỡ viết sai, họ lại phải ra xã xin mẫu mới, photocopy cũng ở xã mới có. Do đường tới xã xa, việc đi lại của dân trong ấp vất vả, tốn kém.

Nhờ anh Hậu làm giúp đơn từ mà dân ấp Giồng Kè đỡ phải đi lại khi đường sình lầy thế này

Dân xứ biển đỡ vất vả đi xa và tốn kém

Anh Hậu kể, khi anh có máy vi tính và máy in thì đa phần giấy tờ, người dân trong ấp đều tìm đến nhờ anh. Chẳng hạn như soạn thảo và in đơn đề nghị cấp giấy chứng sinh, đơn xin việc làm, xác nhận chỗ ở hợp pháp, giấy tờ cho thuê đất… Nói chung là các loại giấy tờ liên quan đến giao dịch dân sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình… Cái nào bà con viết được bằng tay thì anh Hậu chỉ ngồi đánh máy lại. Còn cái nào người dân không tự viết được thì họ ngồi kể, rồi anh đánh chữ, xử lý thành đơn.

Anh Hậu cho hay, sau khi soạn thảo thành văn bản, anh in đơn ra và giao tận tay cho bà con. Cái nào cần xác nhận của ấp thì anh ký luôn, rồi đóng mộc vào. Các loại giấy tờ này, anh không hề lấy tiền phí gì của bà con. Ngoài ra, anh Hậu còn mua thiết bị kết nối mạng Internet 3G, để kết nối với các máy vi tính ở cấp xã. Nhờ đó, anh thường xuyên cập nhật kịp thời những mẫu văn bản mới, phục vụ nhân dân.

Việc làm trên của anh Hậu đã giúp ích rất nhiều cho người dân trong ấp. Bởi nếu trước đây mọi việc bà con đều phải đến xã xin mẫu, rồi mang về ấp cho anh Hậu xác nhận, sau đó mới trở ngược ra xã, huyện nộp. Còn bây giờ, bà con chỉ cần đến nhà anh Hậu là có giấy tờ đi đến xã, huyện nộp, rút ngắn được thời gian, công sức và chi phí đi lại rất nhiều. Anh Hậu cho biết, bình quân mỗi năm anh soạn và in rồi biếu không cho bà con trong ấp khoảng 80 loại đơn từ. Nếu tính ra giấy in thì chỉ tốn khoảng 200.000đ/năm. Tuy nhiên, công sức anh bỏ ra đánh máy và giảm sự đi lại cho người dân thì nhiều. Bản thân anh Hậu cảm thấy vui, bà con trong ấp Giồng Kè cũng rất phấn khởi.

Do thu nhập thấp nên anh Hậu làm thêm nghề giữ cống

“Tui mới nhận chức Bí thư Chi bộ 3 tháng nay. Trước đây tui chỉ là trưởng ấp, với mức phụ cấp 1.210.000đ. Trong khi mỗi tháng ít nhất tui phải chạy xe ra xã 15 ngày, rồi đi rảo quanh ấp 15 ngày nữa. Mà mỗi ngày tốn 10.000đ tiền xăng, thì 1 tháng tui tốn hết 300.000đ. Tôm nuôi thì khi lời khi lỗ, mà trưởng ấp lại được bà con quý mến, nên đám tiệc gì cũng mời. Thành ra đi dự đám riết mà tui chỉ còn… cái xác không, chẳng tiền bạc gì”, anh Hậu chia sẻ.

Do thu nhập ít mà các khoản chi thì nhiều nên năm 2014, anh Hậu xin làm thêm chức Đội phó Đội 3 thuộc Chi cục Thủy lợi tỉnh Kiên Giang. Anh Hậu phụ trách quản lý, vận hành điều tiết nước ở cống ngăn mặn Bình Giang 1 (ấp Giồng Kè). Anh cùng vợ và 2 con chuyển về trụ sở của chi cục này đặt tại cống để ở. Anh được trả lương 1,7 triệu đồng/tháng. Còn căn nhà nhỏ của anh ở cạnh vuông tôm thì cho người em ruột ở nhờ, trông chừng tôm giúp anh.

Anh Danh Kền (44 tuổi, hộ nghèo ở địa phương) tâm sự: “Vợ chồng tui có 2 đứa con và tui làm nghề đẩy ruốc ngoài biển. Nhà nghèo quá và không rành chữ nghĩa, nên chuyện làm giấy tờ cho 2 đứa con chuyển trường, hay xin học bổng đều nhờ “ấp Hậu” hết. Ổng làm mà chẳng ăn tiền, nên tui cám ơn ổng nhiều lắm! Những người khác ổng cũng giúp như tui vậy”.

Ông Nguyễn Văn Hải – Phó chủ tịch UBND xã Bình Giang cho biết: “Thời gian qua tui có nghe bà con nói Danh Hậu mua máy vi tính để làm đơn từ giúp dân. Hậu làm được vậy cũng đáng quý, bởi dân Giồng Kè ở ven biển, xa xôi. Làm ở ấp mà, lương bổng chẳng là bao. Trong khi việc thì nhiều nên chẳng có dư, phải bươn chải thêm. Hậu giúp dân việc nhỏ nhưng ý nghĩa lớn”.

Trân Châu

Gửi phản hồi