Từ bộ SGK thống nhất thành “duy nhất”

Mở đầu loạt bài về SGK, chúng tôi xin được trân trọng giới thiệu cuộc trò chuyện với PGS-TSKH Nguyễn Kế Hào, nguyên Vụ trưởng Vụ Tiểu học của Bộ GD-ĐT để tìm hiểu ngọn nguồn những ồn ào đã, đang diễn ra xung quanh câu chuyện về SGK. Gần hai mươi năm trước, trong bối cảnh tương tự về đổi mới giáo dục phổ thông, PGS Kế Hào đã viết đơn xin từ chức để phản đối cách làm SGK lúc bấy giờ.

– PV: Thưa PGS-TSKH Nguyễn Kế Hào, được biết đổi mới giáo dục phổ thông, thay SGK không phải là câu chuyện quá mới mẻ. Tính từ ngày đất nước thống nhất đến nay, đã từng diễn ra hai cuộc đổi mới, thay SGK. PGS có thể giúp độc giả hình dung rõ hơn về hai lần đổi mới, thay sách đó?

– PGS-TSKH Nguyến Kế Hào: Tôi đã đi nhiều nước, trong tất cả những nước mà tôi đến đó, không có nước nào mà chỉ có một bộ sách giáo khoa duy nhất như nước ta. Sau 1975, lần thay sách năm 1981 nằm trong cuộc đổi mới giáo dục lần thứ ba. Lúc đó cũng một bộ sách duy nhất được nghiên cứu, viết ra ở miền Bắc rồi đưa vào sử dụng trên cả nước. Nhưng bộ sách này sử dụng được hai năm thì đã bộc lộ những bất cập: Việc dạy và học không đạt kết quả. Có năm, cả nửa triệu học sinh không qua được lớp 1, không đọc thông viết thạo. Lúc đó còn có việc nhập cấp I và cấp II thành trường phổ thông cơ sở, nó phá mất nền nếp, phương cách đặc thù của từng cấp. Việc quản lý chung không hiệu quả. Và cũng không có quốc gia nào nhập như thế cả.

Cuối những năm 90, chuẩn bị có một cuộc đổi mới (tôi không gọi là cải cách vì cải cách bỏ cái cũ, lấy cái mới, trong khi giáo dục có tính kế thừa). Gần hai mươi năm thay sách là cũng được, nhưng phải thay bằng bộ sách như thế nào lại là cả một vấn đề lớn. Tôi đã góp ý nhiều, khi đó ông Nguyễn Minh Hiển là Bộ trưởng. Tôi nói Bộ làm thế là không ổn, khó thành công được. Đến năm 2002, chuẩn bị triển khai đại trà thì tôi nói không kịp được, vì mọi thứ vẫn chưa hoàn thiện, đưa ra bây giờ rất khó thành công. Tôi khuyên bộ trưởng nên ra trước quốc hội nhận khuyết điểm và xin thêm thời gian để chuẩn bị. Tất nhiên ở cấp quản lý thì họ có nhiều cái sợ nên mọi thứ vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch.

PGS-TSKH Nguyễn Kế Hào

– Nghe nói lần thay sách đó có sự đánh tráo khái niệm, ông có nắm rõ điều đó không, thưa PGS?

– Hồi đó luật có đưa vào quy định dùng SGK Phổ thông thống nhất, nhưng khi họ triển khai lại thành duy nhất. Giữa những năm 90, ta đã vay một khoản tiền của ngân hàng thế giới để đầu tư làm sách. Sau đó Bộ cử một thứ trưởng thay mặt bộ trưởng quản lý, chỉ huy việc làm sách, chọn một giám đốc, một kế toán trưởng – là 3 người quyết định mọi việc. Nhiều người cũng biết thống nhất không phải là duy nhất; nhưng bây giờ có một khoản tiền, thì một nhóm đó nắm lấy toàn quyền; người khác có muốn làm bộ khác thì lấy kinh phí ở đâu ra để viết và ai cho viết, nên nghiễm nhiên nó trở thành duy nhất.

Sau bao lâu thì bộ sách đó bộc lộ những bất cập như cảnh báo của PGS?

– Sau hai năm! Năm 2005, trong Nghị quyết Trung ương IX, khoá X có câu kiên quyết giảm hợp lý nội dung chương trình học cho phù hợp tâm sinh lý học sinh cấp tiểu học và THCS”. Trong lịch sử ngành giáo dục, chưa bao giờ Ban chấp hành Trung ương lại phải có cả một nghị quyết ghi ngắn gọn và đầy đủ như thế. Giảm tải không phải là sự cao hơn mà thể hiện có sự bất hợp lý, không hiệu quả. Bởi tiêu chuẩn vẫn như vậy, không thay đổi mà học sinh lại bị quá tải là vì sao? Rồi khi giảm tải thì không ai, không tác giả viết sách nào chịu trách nhiệm, và Bộ Giáo dục có chỉ đạo giáo viên tự xử lý giảm tải. Lẽ ra phải có quy định, quy chế “bảo hành” SGK, anh làm sai ở đâu thì anh phải sửa ở đó chứ không thể bắt giáo viên sửa. Hệ quả là việc giảm tải đó vẫn kéo dài cho đến tận ngày hôm nay.

4 bộ sách giúp xoá được nạn mù chữ

– Trong lần thay sách đó, ông đã từ chức để phản đối cách làm SGK có quá nhiều bất cập. Cụ thể của sự việc ra sao, PGS có thể chia sẻ?

– Khi làm SGK, họ mời các cán bộ trong vụ mà tôi quản lý tham gia, nhiều lần tôi gay gắt, phản đối không cho đi họp, như thế là chống lệnh nên sau vẫn phải để họ tham gia. Năm 2002 thay sách thì từ năm 2001, tôi đã từ chức. Tôi từ chức vì tôi không chấp nhận được cách làm không đúng và gấp gáp của họ. Họ đã viết xong rồi, chuẩn bị triển khai rồi họ mới mời tôi tham gia. Trong khi tôi là một nhà khoa học, không bao giờ tôi chấp nhận đứng tên những gì không phải của mình viết ra. Họ làm xong tất cả và họ muốn dựng tôi lên làm người chịu trách nhiệm, vì tôi khi đó đang là Vụ trưởng Vụ Tiểu học. Nếu khi đó tôi nhận lời thì có lẽ cũng có cái lợi là được người ta mang phong thư (phong bì – PV) đến để xin chữ ký và giấy tờ này giấy tờ kia, vì tôi (trên danh nghĩa) là tác giả sách mà. Tôi chọn cách từ chức để được nói tiếng đúng đắn của một nhà khoa học.

SGK bậc phổ thông là vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với học sinh tiểu học, bởi đó là giai đoạn nền móng của việc trồng người. Tôi vẫn nói rằng giáo dục phổ thông là Quốc học vì nó là mục tiêu của Nhà nước. Chương trình cũng là Nhà nước quy định, đến đổi mới sách cũng phải do Quốc hội thông qua. Bằng tốt nghiệp phổ thông là bằng quốc gia, chứ bằng đại học thì không phải. Bằng tốt nghiệp phổ thông của Việt Nam được các nước trên thế giới công nhận, đó như là giấy thông hành để người Việt Nam được học đại học ở các nước. Có một nghịch lý, tuy không phải số đông, nhưng có nhiều trường hợp thi đại học trong nước không đỗ, gia đình có điều kiện cho ra nước ngoài học đại học thì lại học giỏi và trở về được trọng dụng.

SGK bậc phổ thông là vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với học sinh tiểu học

– Tôi đã từng khe khẽ tự hào trước thông tin giáo dục nước ta đã xoá được nạn mù chữ, phổ cập tiểu học vào năm 2000. Vậy thành tựu này đến từ đâu, thưa PGS?

– Sau Đổi Mới năm 1986, ngành GD-ĐT cũng có cơ hội điều chỉnh, cải cách. Từ một bộ sách duy nhất, do nhu cầu cuộc sống dần dần thành 4 bộ sách. Mục tiêu thì vẫn thống nhất là phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ. Đó cũng là mục tiêu chung của thập niên 90, Quốc hội còn có cả luật giáo dục phổ cập. 4 bộ sách dần dần đi vào cuộc sống, do chính cuộc sống lựa chọn một cách tự nhiên. Bộ sách thứ nhất là bộ 165 tuần (quy định dạy trong 165 tuần) hình thành từ năm 1981. Hai là bộ 120 tuần dành cho học sinh dân tộc miền núi, lớp ghép – giữ những cái cơ bản là đọc thông viết thạo, làm được bốn phép tính. Vì ở những vùng đó có nhiều học sinh đi học khi tuổi đã lớn. Bộ 165 tuần thì toàn diện hơn, có cả Mỹ thuật, hát nhạc…

Ba là bộ 100 tuần với sự tài trợ của UNICEF dành cho trẻ em lang thang cơ nhỡ, trẻ em đường phố, có hoàn cảnh đặc biệt. Ngày đi bán báo, làm các việc mưu sinh, tối đi học. Đặc biệt có những lớp, cả hai mẹ con cùng tham gia. Hồi đó cũng không đúng độ tuổi như bây giờ, có khi 10 tuổi mới vào lớp 1. Nên trong những năm tôi làm Vụ trưởng, có thời điểm cả nước có đến trên 10 triệu học sinh tiểu học. Thứ 4 là bộ CNGD của GS Hồ Ngọc Đại. Hồi đó Hội đồng nghiệm thu kiến nghị với Bộ coi đây là một trong những phương án để phát triển giáo dục tiểu học và đề nghị Bộ cho phép áp dụng ở những nơi có điều kiện như thành phố, thị xã, thị trấn. Nhờ đưa bốn bộ sách đó vào giảng dạy mà năm 2000 chúng ta đã xoá được nạn mù chữ và được thế giới ghi nhận.

PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào SN 1942 tại Vĩnh Phúc. Năm 1967, ông theo học tại Trường Đại học Lômônôxốp (Liên Xô cũ). Năm 1979, ông là nghiên cứu sinh tại Viện hàn lâm Khoa học Giáo dục Liên Xô. Ông đã bảo vệ xuất sắc luận án PTS nên năm 1984, ông được trở lại Liên Xô làm luận án TSKH với đề tài: “Hình thành hoạt động học cho học sinh tiểu học”. Năm 1994, TSKH Nguyễn Kế Hào được bổ nhiệm Vụ trưởng Vụ Tiểu học (Bộ GD-ĐT). Năm 2001 ông làm đơn xin từ chức với câu nói nổi tiếng: “Tôi từ chức vì muốn làm điều nhân đức”.

Trần Quân

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here