Nghĩa trang đồng nhi tại Pleiku là nơi yên nghỉ của 22.000 hài nhi

Nơi mộ vắng nghĩa địa buồn

Nghĩa trang đồng nhi tại thành phố Pleiku (Gia Lai) là nơi yên nghỉ của khoảng 22.000 hài nhi bị cha mẹ vứt bỏ kể từ năm 2002. Nghĩa trang được thành lập bởi cha Nguyễn Văn Đông (Trưởng ban Bảo vệ sự sống nhà thờ Thăng Thiên, TP. Pleiku), hiện tại được chăm sóc bởi các ông Nguyễn Văn Lễ, ông Nguyễn Phước Phụng và cụ bà Lê Thị Tâm. Trên một sườn núi rộng hàng chục héc-ta, mấy chục nghìn ngôi mộ lớn bé chen chúc cạnh nhau vẽ nên bức tranh đượm buồn. Địa điểm này đã mang lại cho người viết những cảm xúc vừa đau đớn, xót xa vừa sợ hãi, lạnh người lại thêm phần suy ngẫm trong chuyến công tác Tây Nguyên những ngày cuối năm 2017.

Như đã nói ở phần đầu bài viết, câu chuyện về sự ra đi của cháu bé Trung Thu là điều khiến chúng tôi vô cùng ám ảnh. Câu chuyện không chỉ hiện ra theo lời kể của những người tận mắt chứng kiến, mà nó còn hiện hữu trong một bức ảnh chân thực – một bức ảnh, theo cảm nhận cá nhân của người viết, là hết sức khủng khiếp. Bức ảnh được treo tại nhà tiếp linh của nghĩa trang đồng nhi, đặc tả rõ nét một cảnh tượng ghê gớm: Hình hài bé nhỏ chỉ còn một phần thân bên trên, phần thân dưới bị thương tổn được che phủ dưới một tấm vải màu trắng. Đứa bé đỏ hỏn, mỏng manh, thậm chí còn nguyên nước nhầy trên làn da nhăn nheo. Cháu bị lôi ra khỏi cơ thể người mẹ một cách thô bạo bằng gọng kềm – điều đó có thể suy ra từ vết của 4 dấu bầm tím trên đầu hài nhi.

“Cháu đã chết được khoảng nửa ngày trước khi những người dân tìm thấy cháu trên đồi thông” – ông Nguyễn Phước Phụng kể – “Đó là ngày Trung Thu năm 2004. Khi cháu về đến nghĩa trang đồng nhi, phần thân dưới của cháu hầu như không còn. Kiến bu vào ăn hết cả. Chúng tôi đặt tên cháu là Trung Thu. Cha Đông bảo phải làm lễ cho cháu để cháu được an nhiên về trời”.

Bức ảnh đau xót về sự ra đi của bé Trung Thu

Trong bức ảnh vừa kể đến, đôi bàn tay tí xíu của bé Trung Thu giữ chặt những ngón tay hiền từ chìa về phía mình. Cháu đang níu giữ cái gì? Có lẽ là níu giữ một chút hơi ấm tình người mà cha mẹ ruột đã không thể dành cho cháu. Về sự việc này, anh Phụng tường tận: “Rõ ràng là lúc chúng tôi đưa cháu về nghĩa trang, cháu đã không còn một chút cử động nào cả. Cháu đã hoàn toàn không còn sống nữa. Kể cả lúc chúng tôi tắm rửa cho cháu cũng không có phản ứng gì hết. Vậy mà, lạy Chúa, khi cha Đông làm lễ, Ngài chạm vào đầu cháu, đôi tay cháu tự nhiên cử động, bám chặt lấy ngón tay giữa của Ngài. Ai cũng chấn động, kinh hoàng. Chỉ có thể là phép màu! Hoặc là thân thể của cháu đã chết, nhưng linh hồn vẫn còn bám lấy cuộc sống. Cháu giữ chặt ngón tay Cha, không buông. Chỉ đến khi Cha làm lễ xong xuôi, cháu mới từ từ mở bàn tay ra. Coi như linh hồn của cháu đã về Trời”.

Hình ảnh hài nhi chỉ còn nửa cơ thể vẫn níu giữ sự sống, dù bị cha mẹ ruột ruồng bỏ một cách nhẫn tâm, đã gây ra ấn tượng mạnh mẽ đối với những người chứng kiến sự việc. Cha Đông sau đó đã viết một bức thư, thường được gọi là “lá thư từ Âm Phủ”, nội dung là: “Âm Phủ, 0 ngày 0 tháng 0 năm. Kính gửi những người đang được quyền sống. Kính gửi ông bà nội ngoại, cô bác cậu dì của con. Kính gửi ba má chưa lần nào con được nhìn thấy mặt. Con muốn xin một nấm mồ. Xin hãy thay ba con thương con. Xin hãy thay má con thương con. Ba ơi ba đừng chối bỏ con mãi mãi. Má ơi má hãy thương con dù chỉ một lần thôi, con đã được an ủi lắm vậy. Xin hãy cho con một nấm mồ và gửi về cho cha Đông, Nhà thờ Thăng Thiên”.

Cùng trong năm 2004, cha Đông chứng kiến những chuyện ấn tượng mạnh không thể nào quên. Hôm đó nhằm lễ Giáng sinh, cha Đông đang khâm liệm cho một cháu bé. Vừa lúc đó có một cô gái người Ja Rai bước vào. Cô nói với cha Đông: “Nghe nói ông có nhận con, vậy tôi đem con cho ông. Nó ở trong cái gùi này”. Nói xong cô gái đã nghiêng gùi…

Vừa mở bọc nilon, ông lạnh toát sống lưng: Một thai nhi đã thành hình hài, cháu bé đỏ hỏn đã tắt thở. Đã tự tay mình chôn cất hàng ngàn bào thai, nhưng chưa lần nào ông có cảm giác ớn lạnh như lần này. Đứa bé là kết quả tình yêu của cô với một thanh niên trong làng. Nhưng luật làng thì vô cùng nghiêm khắc. Làng không chấp nhận những người mang bầu trước, vì làm như vậy thì Yàng  sẽ trút cơn giận xuống làm cho người làng và trâu bò bị bệnh chết, lúa bắp trên rẫy bị mất mùa. Sợ bị phạt trâu phạt heo rất nặng và bị bêu xấu, nên cô gái đã không dám giữ lại cái bào thai.

Cha Đông ngậm ngùi tắm rửa cho đứa bé xấu số, đặt tên là Nay Noel. Cùng hôm đó, cũng có một cháu bị bỏ rơi khác, gọi là Nguyễn Minh Giáng Sinh.

Những thai nhi bị bỏ rơi được quy tập về nghĩa trang

Chuyện của người chôn cất 22 nghìn hài nhi xấu số

Thời gian trôi qua lặng lẽ, thấm thoát đã mười mấy năm, nghĩa trang đồng nhi ngày càng mở rộng, hàng vạn thai nhi vắn số quy tụ về đây, tạo nên một khung cảnh tịch mịch thê lương. Do công việc, cha Đông không thường xuyên đến nghĩa trang, nhiệm vụ thu thập và chôn cất các hài nhi giao cho ông Phụng và ông Lễ.

Người viết hỏi rằng: “Sống trong nghĩa trang, ngày nào cũng tiếp xúc với những thi thể bị vứt bỏ, những linh hồn bị ruồng rẫy, các ông có sợ hãi hay không? Dân gian thường truyền tai rằng người chết trẻ thì thiêng lắm, ở nghĩa trang đồng nhi có tới hàng vạn linh hồn chết trẻ, liệu có hiện tượng gì chăng?”. Ông Phụng khẳng khái bảo: “Bọn tôi thuộc loại cứng vía lắm, nhưng đôi lúc cũng phải rợn cả tóc gáy khi nghe tiếng gió rào rào thổi rít ráo qua các tấm bia mộ. Nghe như tiếng khóc than nỉ non của hàng trăm, hàng nghìn đứa trẻ vô tội. Tội nghiệp các cháu quá”.

Theo ông Phụng, đa số là các thai nhi được bỏ bên vệ đường, trên các nấm mộ trong nghĩa trang, kể cả treo trên cành cây. Các bào thai có khi là một hình hài nguyên vẹn, có khi chỉ là một cục máu đỏ hỏn quấn vội trong tấm vải hay quần áo cũ… Những cô gái trót dại đã hủy đứa con của mình nhưng xấu hổ nên phần lớn thuê xe ôm đem đến chôn. Những mộ phần lén lút chôn vội vã nên đào nông choẹt, chôn lấp sơ sài, mưa gió làm xói lở, làm lộ ra những thứ đã chôn.

Ở nghĩa trang đồng nhi này, người ta còn nhắc nhiều đến ông Sáu, một chủ thầu xây dựng. Theo đó, khoảng chục năm trước, khi đang xây mộ cho mẹ mình tại nghĩa trang Pleiku, Gia Lai, thì ông Sáu bất ngờ chứng kiến một cảnh tượng không cầm lòng được: Một cô gái trẻ khá xinh đẹp đi xe máy vụt lên nghĩa trang rồi vội vã bỏ lại gần khu mộ một túi nilon màu đen. Ngay sau đó, cô gái vội vã phóng xe đi về phía thành phố… Thấy bất thường, ông đến mở túi nilon thì phát hiện một hài nhi đỏ hỏn bên trong. Nhìn cảnh tượng ấy khiến chân tay ông rụng rời, người ông không đứng vững được. Sau phút giây trấn tĩnh, ông nghĩ rằng lương tâm con người không thể làm ngơ chuyện này được, nên đã chôn cất và xây mộ cho sinh linh nhỏ bé này một cách tử tế.

Những bào thai nhỏ được an táng trong niêu sành

Sau lần ấy, đêm về ngủ, trong đầu ông cứ ám ảnh bởi những hài nhi bị bỏ rơi. Hôm sau, ông quay lại nghĩa trang thắp hương mộ mẹ và khi đi qua khu mộ Đồng nhi, bước chân bỗng cứ chùn xuống như có ai đó níu kéo. Linh cảm đưa ông tìm đến góc khuất sau một ngôi mộ và lại bắt gặp thêm một hài nhi khác cũng bị bỏ rơi. Từ dạo ấy, ông bỏ luôn nghề xây dựng, lủi thủi làm việc chôn cất, xây mộ phần cho các cháu. Rồi ông Sáu gặp được ông Phụng và ông Lễ. Kể từ lúc đó, ông Phụng và ông Lễ học được thủ tục khâm liệm từ ông Sáu. Cả ba tất bật cả ngày đêm ở nghĩa trang để làm việc chôn cất cho các hài nhi chưa được một lần sống.

Họ kể, có những đêm ngủ dậy, sáng ra họ thấy túi đựng hài nhi được chôn lấp một cách sơ sài ở nghĩa trang thành phố Pleiku. Quá đau lòng, ông Sáu bảo hai ông Lễ và ông Phụng xây ngay một tấm bảng nằm ở vị trí trung tâm nghĩa trang khắc lên dòng chữ “Xin đừng vùi lấp, vứt bỏ, hãy đặt các con nơi đây để cô chú giúp đỡ”. Rồi các anh liên hệ với cánh xe ôm, dán số điện thoại khắp nơi, cùng dòng nhắn: “Có ai nhất thời khó khăn, túng quẫn hãy gọi số này mong giúp ngặt”. Cứ vậy, mỗi người họ đã khâm liệm và chôn cất hàng nghìn thai nhi bị bỏ rơi.

Dù đã làm công việc này hơn chục năm, thế nhưng ông Lễ, ông Phụng thường không đi cùng nhau. Hai ông tự đi một mình đến các điểm xin thai nhi bị phá bỏ về chôn cất. Ông Lễ năm nay đã ngoài 50 tuổi, còn ông Phụng cũng bước sang tuổi 48. Ông Phụng kể, chỉ có 2 ngày mùng 1-2 Tết Âm lịch hàng năm là hai ông ở nhà ăn Tết, còn lại, ngày nắng cũng như ngày mưa, hai ông đều có mặt ở nghĩa trang. Người đàn ông thô ráp với những nét khắc khổ trên khuôn mặt sạm nắng bày tỏ: “Gắn bó lâu cũng thấy quen, ngày nào không ra là khó chịu lắm. Mưa to, gió lớn lòng lại cứ thấy lo và nóng ruột hơn nên chúng tôi lại chạy ra đây, không ở lâu thì cũng thắp một nén nhang cho các con rồi về mới yên tâm”.

Liên tục có những cuộc điện thoại gọi ông Phụng đi nhận bào thai bỏ rơi

Theo tiết lộ của hai ông, ở thành phố Pleiku có 12 điểm có thể xin được thai nhi xấu số về chôn cất. “Lắm lúc nghĩ mà cay đắng, sao số lượng các cháu bị bỏ rơi vẫn nhiều đến vậy? Tháng nào tôi cũng chôn cất hàng chục cháu”, ông Phụng vừa dứt lời thì có điện thoại. Đầu dây bên kia nói vội vã, cụt lủn: “Lại có nữa rồi”. Hôm nay, trời nắng nóng nếu để lâu thì thi thể sinh linh bé bỏng sẽ bị bốc mùi, vì vậy ông vội phi lên chiếc xe máy èng èng chạy đến nơi quen thuộc kia để nhận hài nhi vắn số mang về nghĩa trang.

Người viết lặng lẽ quan sát ông Phụng chăm sóc hài nhi bị bỏ rơi nhẹ nhàng và gọn ghẽ như một chuyên gia. Lấy một chai rượu đã chuẩn bị sẵn, ông rửa hài nhi cẩn thận, nhẹ nhàng lau, rồi quấn một chiếc khăn trắng vào người bé. Thai nhỏ thì đặt vào niêu sành, thai lớn đặt vào tiểu. Sau đó, ông bỏ vàng mã, trà vào tiểu sành, đặt bé vào trong và miệng lầm rầm liệm cho bé. Chỉ trong vòng hơn chục phút, ông đã làm xong cái việc mà người ta vẫn thường gọi là “trọn đạo, trọn tình” cho một thai nhi xấu số bị cha mẹ bỏ rơi. Một công việc ông không hề muốn, nhưng vẫn phải làm.

Khi ông Phụng xong việc, ông Lễ cũng vừa về tới. Quăng đại chiếc xe gắn máy vào một góc, ông Lễ mở cốp xe lấy ra một bọc to. “Hôm nay, có 3 cháu…” – ông Lễ thở dài não nề. Và ông lại thì thầm như tự nói với mình: “Có nhiều thai nhi đã thành hình người, cân nặng hơn 2kg nhưng vẫn bị cha mẹ từ bỏ. Có những em bé trắng và đẹp lắm, chúng tôi liệm mà lòng đau thắt, bế vào lòng mà khóc…”.

“Đêm nào tôi cũng nghe các cháu gọi mình…”

Trong khi ông Phụng và ông Lễ làm công việc thu thập và chôn cất cho các hài nhi bị bỏ rơi, bà cụ Tâm lại là người chăm sóc cho các bé khi các bé đã nằm yên nghỉ dưới mồ. Người ta gọi cụ là “bà ngoại đồng nhi”. Sáng nào cũng vậy, bà cụ thức dậy sớm và đi bộ đến khu nhà thờ chung của những hài nhi để dọn dẹp, đón khách đến viếng. Bà thủ thỉ với các linh hồn bị ruồng bỏ bằng tất cả tình cảm và sự yêu thương như thể người bà dành cho đàn cháu bơ vơ, côi cút. Buổi tối, khi không còn người ra vào bà mới mò mẫm bước về nhà. “Tôi còn sống ngày nào thì cứ lên đây lo hương khói cho các cháu tội nghiệp. Những ngày ốm không lên được là thấy lòng mình không thảnh thơi” – bà cụ Tâm thật thà nói.

Bà cụ Tâm được gọi là “bà ngoại đồng nhi”

Mới đây, bà cụ Tâm trở bệnh, phải nhập viện điều trị hơn chục ngày. Quãng thời gian nằm bệnh viện, bà cụ nóng ruột không yên, bởi lo lắng cho những hài nhi đang nằm trong nghĩa trang hoang lạnh. Bà cụ móm mém kể: “Không biết có phải do tôi suy nghĩ nhiều nên bị ám ảnh hay không, nhưng, lúc nằm bệnh viện, đêm nào tôi cũng mơ thấy các cháu gọi tôi. “Bà ơi, chúng cháu nhớ bà”. “Bà ơi, mau khỏe về thăm chúng cháu”.  Bọn trẻ lít nhít cứ thủ thỉ như vậy, tôi làm sao mà dám tiếp tục nằm viện. Chỉ vừa đỡ mệt một chút, tôi lại lếch thếch ra nghĩa trang đồng nhi để bầu bạn với đám nhỏ. Mà cũng kỳ lạ, cứ ra đến nghĩa trang là tôi thấy đỡ bệnh, mọi mệt mỏi cũng tan biến hết cả”.

Việc làm của bà Tâm là hoàn toàn tự nguyện, không mưu cầu bất cứ sự lợi ích nào. Cả bà Tâm, anh Phụng, anh Lễ đều tâm niệm rằng, tiền bạc nhiều cũng chỉ ăn và sống một đời người, phải làm thêm những việc thiện để tích đức. Lúc đầu, nhiều người còn bảo họ bị khùng, nhưng dần về sau họ cũng hiểu ra. Họ thuyết phục người thân, người xung quanh mình rằng: “Những đứa trẻ không được may mắn sinh ra trên cõi đời này thì chúng ta hãy cho chúng một mái ấm ở nơi cõi âm để đỡ tủi thân”.

Hiện nay, nhiều nhà hảo tâm tại Gia Lai và các tỉnh lân cận thường xuyên tìm đến nghĩa trang đồng nhi để thăm viếng hoặc dành tình cảm, vật chất cho các hài nhi không được thành người. Nhiều gia đình đã nhận đỡ đầu cho các bé. Vì thế, xen lẫn trong các ngôi mộ vô danh, còn có cả những ngôi mộ đề tên “cha mẹ nuôi lập mộ”. Đó cũng là một chút hơi ấm an ủi cho linh hồn các cháu bé thiệt thòi không được sinh ra. Giống như mấy câu thơ khắc trong nhà tiếp linh như sau: “Cho lòng con được ủi an/ Nơi mộ vắng nghĩa địa buồn/ Xin hãy thương con, đừng bỏ con/ Con tội gì, mẹ ơi, cha ơi!”.

Vũ Cường

Gửi phản hồi