Những cán bộ của dự án MAG vẫn hàng ngày rà phá bom mìn

Kỳ 1: Ghi chép ở nơi bom mìn kêu ai người ấy… dạ

“Cụt đọt” là nói theo tiếng miền trung, có nghĩa là cây mà không có ngọn, mất ngọn và gần như bao nhiêu năm vẫn cứ thế, không thể phát triển lên nữa. “Xóm cụt đọt” ý chỉ những gia đình mà người chồng, người cha đã mất vì bom mìn, chỉ còn những phụ nữ cố gắng bám trụ lại, gắng nuôi con cái, sống chơi vơi như cây cỏ, bữa đói bữa no qua ngày.

Cán bộ rà phá bom mìn chưa chắc có kinh nghiệm bằng… mấy ông dân cày

Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Quốc phòng, số lượng bom mìn, vật nổ còn sót sau chiến tranh tại Việt Nam khoảng 800.000 tấn. Với tiến độ rà phá như hiện nay, Bộ Quốc phòng ước tính phải mất 300 năm nữa mới giải quyết hết. UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, hiện có 83% diện tích tỉnh này vẫn còn bom mìn, muốn rà phá hết vật liệu nổ còn lại sau chiến tranh phải cần hàng triệu đôla kinh phí và thời gian cũng hàng trăm năm.

Ông Trần Văn Thạch (50 tuổi, bán tạp hóa ven đường mòn Hồ Chí Minh thuộc địa phận huyện Cam Tuyền, Quảng Trị) tâm sự: “Ở đây, sống chung với bom mìn đã là chuyện thường nhật và khắp mảnh đất Quảng Trị này, không chỗ nào không nghe thấy những câu chuyện về chết chóc, thương tích”. Ông bảo, ở đây gần như rất ít đất trồng trọt. Tại những vùng cao điểm về bom mìn như huyện Gio Linh, Cam Lộ, phần lớn đều là những người dân sau chiến tranh mới chuyển về sinh cơ lập nghiệp. Do đó nếu họ không đi tìm bom đạn thì lấy gì nuôi gia đình, biết là cái chết ở ngay trước mắt nhưng cũng đành nhắm mắt làm liều, chỉ biết cầu trời Phật phù hộ. Mà kiếm ăn bằng bom mìn đồng nghĩa với việc bỡn cợt cái chết. Một kg sắt vụn mà người đi rà phế liệu kiếm được đôi khi phải trả bằng cả mạng sống. Đó là còn chưa kể rất nhiều trường hợp hồi trước lên rừng, cuốc rẫy cũng dính mìn, đi chơi cũng đạp phải mìn, rồi chết.

Có nhiều người còn nói rằng, những cán bộ của các dự án rà phá bom mìn, vật liệu nổ trên mảnh đất Quảng Trị chưa chắc đã có nhiều kinh nghiệm, kỹ năng xử lý bom mìn còn sót lại thời hậu chiến bằng… mấy ông dân cày. Họ biết rõ quả nào phải tháo thế nào để không nổ, quả nào nguy hiểm động vào là chết, quả nào an toàn, quả nào có giá trị ra sao… mà không cần phải qua sách vở hay đào tạo gì hết, bởi đó là kinh nghiệm, là cuộc sống thường ngày phải đối mặt của những người dân nơi đây.

Những chứng tích bom mìn trên mảnh đất Quảng Trị 

Những góa bụa giữa thời bình 

Thôn 6, xã Hải Thái, huyện Gio Linh một thời được coi như là điểm nóng nhất của mối hiểm họa bom mìn. Thời gian trước, thôn 6 còn mang nhiều cái tên khác như “xóm liều”, “xóm tử thần”, hay “làng góa phụ”, “xóm mồ côi”… Sau bao nỗ lực cố gắng, giờ nơi đây không còn cảnh người dân đi rà phá tìm kiếm phế liệu chiến tranh đổi lấy miếng cơm như trước nữa, người ta lại gọi thôn 6 với cái tên “xóm cụt đọt”. “Cụt đọt” là nói theo tiếng miền trung, có nghĩa là cây mà không có ngọn, mất ngọn và gần như bao nhiêu năm vẫn cứ thế, không thể phát triển lên nữa. “Xóm cụt đọt” ý chỉ những gia đình mà người chồng, người cha đã mất vì bom mìn, chỉ còn những phụ nữ cố gắng bám trụ lại, gắng nuôi con cái, sống chơi vơi như cây cỏ, bữa đói bữa no qua ngày.

Ở đây, phần lớn người dân chuyển về sinh sống từ sau ngày thống nhất đất nước. Không ruộng vườn, không nghề nghiệp, họ đành kiếm ăn bằng bom mìn. có những thời điểm, 100%  đàn ông thôn 6 kéo nhau đi rà phá bom mìn, tìm kiếm phế liệu, hàng loạt cái chết thương tâm cũng bắt đầu bởi 2 chữ bom mìn. Chị Nguyễn Thị Phượng (người thôn 6) cho biết, cao điểm nhất là từ năm 1991 – 1993. Những năm đó, hễ nghe có tiếng bom nổ là y như rằng hôm sau trong làng lại có đám tang. Những trái bom mìn còn sót lại ấy đã cướp biết bao sinh mạng của người nơi đây và để lại trong làng những ngôi nhà trống vắng đàn ông, bỏ lại vợ góa con côi cùng cuộc sống quá túng bấn bữa đói bữa no.

Căn nhà của bà Tạ Thị Thanh (thôn 6, xã Hải Thái, huyện Gio Linh) tuềnh toàng, trong khu vườn 2 ngôi mộ. Bà Thanh kể, vợ chồng bà tới thôn 6, xã Hải Thái sinh sống từ hồi mới giải phóng. Bà có 7 đứa con. Cuộc sống vất vả mưu sinh,  không có nghề ổn định lại túng thiếu nên ông Phúc (chồng bà) và đứa con trai lớn phải liều vác máy rà vào rừng tìm bom mìn. Một buổi trưa hè năm 1991, khi đang ngồi cưa bom lấy thuốc nổ trong vườn nhà thì quả bom phát nổ hất tung ông Phúc và người con trai Nguyễn Viết Trường. Lúc hàng xóm chạy đến thì thấy bà Thanh vừa khóc lóc thảm thiết vừa lê lết nhặt từng mảnh thi thể của hai cha con lẫn lộn với đất cát. Ngôi nhà đau buồn ấy lại có thêm một góa phụ, cùng đàn con bữa đói bữa no.

Một góc xã Hải Thải, điểm nóng về bom mìn Quảng Trị

Căn nhà của chị Nguyễn Thị Hương nằm ngay trục đường chạy vào trung tâm xã. Từ ngày chồng mất, ngôi nhà của chị càng trở nên lạnh lẽo vì thiếu bàn tay chăm sóc của người đàn ông. Nhắc lại chuyện cũ, đôi mắt chị đỏ hoe: “Hai vợ chồng mới cưới và bén hơi nhau tròn 5 tháng thì anh ấy bỏ mẹ con tui ra đi. Anh ấy còn không kịp để nhìn thấy đứa con đầu lòng chuẩn bị chào đời!”.

Chị bảo vì hoàn cảnh quá khó khăn, chồng chị mới phải chọn nghề tháo dỡ phế liệu chiến tranh. Kiếm tiền chưa được bao nhiêu, bom đã nổ, chồng chị mất. Còn lại chị chèo chống một mình với cuộc đời. Hồi ấy chị còn đẹp lắm, nhiều người trong xóm bảo chị đi bước nữa. Nhưng chị biết rổ rá cạp lại với ai bây giờ khi trong xóm, đàn ông cũng vắng vẻ gần hết vì bom mìn, qua xứ khác thì không biết làm gì sinh sống. Rồi nếu không may gặp phải người chồng rượu chè, cuộc sống của 2 mẹ con lại càng khổ hơn. Chị đành ở lại đi cạo mủ cao su thuê. Đến giờ, chị Hương vẫn không hiểu được bằng cách nào mà mẹ con chị lại vượt qua được những tháng ngày gian khó ấy.

Bà Bùi Thị Cầm (60 tuổi, ở thôn 6) cũng góa phụ sau tai họa bom mìn, một mình bà nuôi 5 người con. Bà Cầm chia sẻ, hoàn cảnh như bà nhiều lắm. Nhưng bà may mắn là con cái có nghề khác chứ không phải theo cha mẹ đi phá bom mìn. Bà Cầm chảy nước mắt chỉ đứa cháu ngoại khoe: “Đây là con của đứa út, đang là giáo viên thể dục thể thao dạy ở huyện Đắk-rông”.

Bà Cầm bên đứa cháu nhỏ của mình

Hay như gia đình bà Tạ Thị Nga, lúc mới chuyển về thôn 6, suốt mấy tháng trời gia đình mấy miệng ăn bữa đói bữa no. Mà hồi ấy cao su cũng chưa có để đi cạo mủ thuê. Bí quá, chồng bà đành đi cưa bom và buôn bán phế liệu ngay tại nhà. Hôm bom nổ, bà Nga ở nhà bên cạnh. Lúc bà chạy về thì cả căn nhà nhỏ của vợ chồng bà và mảnh vườn đều bị san thành bình địa, chồng và đứa con mới mấy tháng tuổi thì không tìm thấy xác. Hàng xóm chặt cói, bện rơm, dựng tạm cho túp lều rách nát cho bà. Rồi bà Nga và những đứa con còn lại cũng đành phải rau cháo qua ngày trên mảnh đất đau thương cũ.

Trường hợp của bà Lê Thị Bun lại khác. Bà ngập ngừng mãi mới nói: “Chồng tui không chết nhưng đã đi xa…”. Ngày trước, dù xoay xở đủ thứ nghề nhưng gia đình bà vẫn không đủ ăn đủ mặc. Chồng bà như bao người đàn ông khác trên mảnh đất này, phải kiếm sống từ bom đạn. Trong một lần tháo ngòi nổ, ông bị cụt mất một chân. Sợ hãi, nhưng chồng bà Bun không biết làm gì nên phải trở lại với nghề cũ. Gắng được thời gian ngắn thì ông giải nghệ. Rồi ông bỏ vào Nam biền biệt, không thấy về.

Chị Nguyễn Thị Phượng bảo, ngày trước, những gia đình “cụt đọt” ở cái xóm này nhiều lắm. Về sau có nhiều người vẫn còn anh em họ hàng ở  xứ khác nên sợ quá mang con cái đi mất. Những người ở lại vì họ không biết đi đâu về đâu để sinh sống, đành ngày ngày đi hái củi, chăn bò, cuốc đất… kiếm bữa cơm qua ngày, chỉ mong sao những lần lên rừng, trời thương khiến họ không “lỡ tay” đụng phải bom mìn còn sót lại lần nữa.

Trang Nhung

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here