Vợ chồng giáo sư Lê Thế Trung

Tôi biết giáo sư, tiến sĩ khoa học Lê Thế Trung bắt đầu từ quyển sách “Trưởng thành” của nhà báo Khánh Vân viết về ông khi được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Câu chuyện ám ảnh nhất không thể nào quên là năm 1971 ông đến Hội nghị Oslo ở Nauy để kể cho nhân loại biết quân đội Mỹ đã sử dụng các vũ khí hủy diệt, gây tội ác man rợ hơn thời trung cổ ở Việt Nam.

Ông gói ghém mang theo các chứng tích tội ác chiến tranh: Bình phóc-môn chứa gan người bị bom phốt pho. Não người bị bom bi Mỹ giết. Chân người cháy đen, có chỗ trơ xương bởi bom napalm Mỹ… Đó là những phần thi thể của bộ đội ta bị giết bởi vũ khí hóa học của Mỹ ở Khe Sanh, Quảng Trị. Cả hội nghị kinh hoàng và sợ hãi khi nhìn thấy các hiện vật ghê rợn không thể chối cãi. Họ lại càng lo lắng hơn khi nghe ông thuyết trình về các loại vũ khí hủy diệt, đặc biệt là vũ khí hóa học tàn bạo của quân đội Mỹ.

Câu chuyện tội ác hủy diệt do bác sĩ Lê Thế Trung kể và chứng minh bằng các hình ảnh, chứng tích mang theo đã vượt khỏi không gian Hội nghị, vượt qua biên giới Nauy lan xa đến nhiều quốc gia. Sau đó, người ta thấy các hình ảnh nạn nhân bị bom napalm được giương cao trong nhiều cuộc biểu tình ở phương Tây chống Mỹ gây tội ác hủy diệt trong chiến tranh Việt Nam.

Nói đến giáo sư Lê Thế Trung là nói tinh thần vượt khó, bền bỉ kiên trì vươn lên để trưởng thành mà người trẻ sẽ tìm thấy một tấm gương học tập của mình. Từ một chàng trai Hà Nội học xong Trường Bưởi, “ra đi không vương thê nhi”, ông  tham gia Đoàn thanh niên Cứu quốc, Tự vệ thành, rồi nhập Vệ quốc đoàn. Năm 1946, ông học lớp y tá ngắn hạn, ngày tốt nghiệp được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trao bằng. Xúc động rưng rưng, rồi bắt đầu từ đó, ông hành nghề y. Ở mặt trận Điện Biên Phủ thiếu thốn đủ bề, ông cùng đồng đội sử dụng các thanh tre, gáo dừa, mảnh bầu khô để làm dụng cụ cầm máu. Nước đun sôi, tự pha chế làm dịch truyền. Ánh sáng là những chiếc đèn pin, đèn dầu soi sáng để mổ cho thương binh.

Giáo sư Lê Thế Trung

Giáo sư Lê Thế Trung là con người thực tế và hành động. Ông không chỉ giỏi lý thuyết y khoa mà có nhiều năm tháng trải nghiệm, trực tiếp cấp cứu điều trị thương binh ở chiến trường. Rất nhiều thương binh bị bỏng napalm được ông và các đồng nghiệp chữa khỏi. Con đường ông đi đầy gian khổ, nhọc nhằn. Từ một y tá chiến trường, ông phấn đấu trở thành y sĩ, bác sĩ, rồi tiến sĩ khoa học, giáo sư, Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chiếc gậy Trường Sơn cùng bước chân giáo sư Lê Thế Trung đã in dấu ở Thành cổ Quảng Trị, ở Tây Nguyên, ở biên giới Tây Nam và phía Bắc. Thời bình, ông xuống tận các đơn vị cơ sở chỉ đạo tuyến. Hầu như ở các vùng sâu, vùng xa có người lính là ông đều có mặt. Sóng thần. Bão tố. Lũ quét. Tai nạn công nghiệp… gây thảm hoạ hàng loạt đang là nỗi thương tâm, nhức nhối của con người. Nắm bắt được, phát hiện được tính chất nguy hại, lớn lao đó, chính ông là người đầu tiên đề xuất xây dựng chuyên ngành y học mới: Y học thảm hoạ. Cơn bão số 5 và chuyến đi chỉ đạo cứu người bị nạn của ông ngay sau bão vừa dứt ở Sóc Trăng, Cà Mau, Kiên Giang, hoặc các vụ nổ sập hầm mỏ, hỏa hoạn công nghiệp… là một thực tế đầy thuyết phục của chuyên ngành mới này.

Khi tôi về Viện Quân Y 103 thì khoa Bỏng mà một thời giáo sư Lê Thế Trung làm trưởng khoa đang phát triển rất mạnh, vang tiếng khắp nước. Trước đó, ông đã nghiên cứu tìm ra nhiều cây thuốc để chữa bỏng thành công. Điển hình nhất là thuốc bỏng Maduxin chiết xuất từ cây sến mật, hoặc thuốc bỏng B76 được điều chế từ vỏ cây sơn trà. Rồi kỹ thuật dùng da ếch tiệt trùng để phủ vết thương bỏng tạo hạt… nhân sinh tế bào…

Không vừa lòng với những gì đã có, ông gọi bác sĩ Nguyễn Văn Sáu – Chánh văn phòng Học viện Quân y và tiến sĩ khoa học Phạm Mạnh Hùng – Trưởng phòng Quản lý và nghiên cứu khoa học cùng trao đổi để viết dự án xin phép Bộ quốc phòng và Bộ Y tế nâng cấp khoa Bỏng thành Viện Bỏng quốc gia. Nhưng, để làm được việc lớn này, trước đó ông đã cử hàng loạt bác sĩ đi học nước ngoài học tập hoặc làm tiến sĩ về chuyên khoa Bỏng. Bây giờ, Viện Bỏng quốc gia cơ ngơi rộng rãi, bề thế, đội ngũ cán bộ khoa học đông đảo, là tuyến cuối điều trị, nghiên cứu khoa học và đào tạo cho toàn quốc.

Tôi may mắn là người chứng kiến Kỹ thuật ghép thận đầu tiên của Việt Nam thành công. Dạo ấy là năm 1992. Giáo sư Lê Thế Trung như một tổng chỉ huy “chiến dịch”. Ghép thận quá mới ở Việt Nam và Học Viện Quân y lại tiên phong. Ông thận trọng, tính toán cả thành công và thất bại. Họp Ban chỉ đạo chương trình ghép thận, ông nói: Chỉ được phép thành công. Không được thất bại. Thất bại ca đầu tiên cũng có nghĩa là dừng kỹ thuật, không biết bao giờ mới khởi động trở lại. Thiếu tá Vũ Mạnh Đoan, 40 tuổi được chọn là bệnh nhân ghép thận đầu tiên, người hiến tặng thận là em trai của bệnh nhân.

Để thực nghiệm ghép thận thì trước đó, ông đã cử nhiều bác sĩ đi Cuba học tập. Trong ghép thận yêu cầu về miễn dịch học người cho và người nhận thận phải tương thích phù hợp về di truyền. Ngành Miễn dịch học lúc đó ở Việt Nam còn rất sơ khai, ông quyết định thành lập Bộ môn Miễn dịch học. Đến bây giờ, ghép thận đã được nhân ra nhiều cơ sở y tế toàn quốc, và hàng ngàn ca ghép thận đã thành công. Đồng nghiệp, và người bệnh đều ghi nhớ giáo sư Lê Thế Trung như là một người tiên phong trong kỹ thuật ghép thận của Việt Nam.

Có thể nói Học Viện Quân Y là “cái nôi” ghép tạng. Có 3 kỹ thuật ghép tạng tiên phong là: ghép thận, ghép gan, và ghép tim thì đều thực hiện ở Viện Quân Y 103 – Học viện Quân y. Giáo sư Lê Thế Trung là người chỉ huy điều hành hoặc can dự vào cả 3 kỹ thuật tiên tiến này. Có một điều thú vị là: Ca ghép thận đầu tiên, sau đó là ca ghép gan đầu tiên ở Việt Nam, giáo sư Lê Thế Trung và người con trai của ông là giáo sư Lê Trung Hải cùng tham gia.

Giáo sư Lê Thế Trung và cháu Nguyễn Thị Diệp sau khi ca ghép gan thành công

Cháu Nguyễn Thị Diệp 9 tuổi, bị xơ gan nặng nguy cơ đe dọa tính mạng. Ca ghép gan thực hiện vào ngày 31/1/2004, sau 16 tiếng đồng hồ căng thẳng, hồi hộp, ca ghép gan đã thành công. Bé Diệp 14 năm trước, bây giờ đã tốt nghiệp trung cấp dược và được nhận về làm việc ở chính cái nơi ngày trước cứu sống cháu. Cháu Diệp nhận giáo sư Lê Thế Trung là ông. Những ngày nằm viện cuối cùng của đời người, dù mệt mỏi, ông vẫn nhận ra bệnh nhân của mình năm xưa, ông gắng gượng trò chuyện với đứa cháu mà ông và đồng nghiệp cứu sống từ cõi chết trở về.

Giáo sư, Thiếu tướng Lê Thế Trung có 2 kỷ niệm êm đềm và sâu sắc với nhạc sĩ Văn Cao. Ấy là dạo năm 1958, Đoàn văn nghệ sĩ gồm Văn Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tý đi thực tế ở Tây Bắc. Đường sá xa xôi, ổ voi ổ trâu, quá vất vả, đến Hát Lót – Sơn La thì Văn Cao không may bị thủng dạ dày. Bệnh nhân được chuyển đến cơ sở điều trị lúc đó bác sĩ Lê Thế Trung đang quản lý. Đèn măng sông thắp sáng. Đèn pin soi vào ổ bụng. Bác sĩ Lê Thế Trung mổ cấp cứu kịp thời và đã giúp cho nhạc sĩ Văn Cao thoát khỏi nanh vuốt tử thần. Mấy chục năm sau, Văn Cao bị đau cột sống, đi lại rất khó khăn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết thư giới thiệu nhạc sĩ đến Viện quân y 103 điều trị. Rất bất ngờ, giáo sư, viện trưởng Lê Thế Trung gặp lại bệnh nhân xưa với căn bệnh mới. Bàn tay vàng của giáo sư và đồng nghiệp đã chữa cho nhạc sĩ Văn Cao khỏi bệnh sau gần 1 tháng điều trị đông tây y kết hợp.

Gia đình giáo sư Lê Thế Trung có 3 đời làm nghề y. Ông và người con trai – giáo sư Lê Trung Hải cùng là Thiếu tướng quân y. Hai cha con ông và các đồng nghiệp đã được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học công nghệ với công trình ghép tạng. Người ta không nhớ vợ giáo sư mang họ gì, nhưng lại gọi bà bằng cái tên thân mật, quý mến… bà Dĩnh. Bà Dĩnh giản dị, nhân hậu, là y tá trong bệnh viện, luôn đứng sau chồng chăm lo hậu phương và nuôi dạy con cháu trưởng thành. Con dâu ông là đại tá, phó giáo sư, tiến sỹ Phan Việt Nga – chủ nhiệm Bộ môn Thần kinh Viện quân y 103. Cháu nội cũng theo ông cha làm nghề y. Gia đình ông có đến 12 người làm thầy thuốc.

Người xưa nói: “Cái quan định luận”, khi đậy nắp quan tài thì mới bàn về giá trị phẩm chất của con người. Nhưng, giáo sư Lê Thế Trung thì đã được định luận ngay từ thời ông đang làm việc sung sức nhất. Không biết tự bao giờ, từ đâu bác sĩ, y tá, kỹ thuật viên bệnh viện và sinh viên ít gọi ông là viện trưởng, giám đốc, thủ trưởng mà bằng định danh gần gũi, trân trọng… “Thầy Lê Thế Trung”, “Giáo sư Lê Thế Trung”, “Cụ Lê Thế Trung”. Ấy là những năm đầu 80 của thế kỉ trước: Giáo sư Lê Thế Trung mới độ tuổi 50 mà đã được gọi thân mật bằng… cụ.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here