Ông Nguyễn Trí Dạng

Tài không đợi tuổi

Sau nhiều ngày dò tìm, cuối cùng chúng tôi cũng gặp được một trong những người làm ra những bức phù điêu ở chợ Bến Thành. Ông là Nguyễn Trí Dạng (SN 1932, phường Thống Nhất, TP. Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai), dân Nam Bộ gọi ông là nghệ nhân Tư Dạng. Mở đầu câu chuyện ông nhắc đến người cha tôn kính của mình là nghệ nhân Nguyễn Trí Đồng, từng làm chủ nhiệm HTX Mỹ nghệ Biên Hoà những năm 1950. HTX trực thuộc Trường Mỹ Nghệ thực hành Biên Hoà do người Pháp lập năm 1903 (nay là Trường Cao Đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai). Thời đó trường này còn được gọi là trường Bá Nghệ vì dạy rất nhiều nghề như: mộc, đồng, dệt lụa và thế mạnh là nghề gốm.

Năm 14 tuổi, ông Dạng được cha gởi vào Trường Bá Nghệ Biên Hoà để nối nghiệp gia đình. Sau 4 năm học, năm 1950, ông Dạng ra trường. Lúc này, trường thành lập HTX. Vì trường thiên về thực hành nên HTX chính là nơi để cho các cựu học viên “dụng võ” nếu không muốn mở lò riêng. Khi đó sản phẩm gốm của HTX được coi là “nhất xứ Đông Dương” nên hầu hết sản phẩm ra lò được xuất khẩu đi nước ngoài, chủ yếu là các quốc gia ở châu Âu.

Một số thương gia lớn có cửa hàng nằm trên đường Catinat thời đó (nay là đường Đồng Khởi) từng có thời gian dài lấy sản phẩm gốm Biên Hoà về bán cho khách ngoại quốc và bán rất chạy. Ngay cả những ông bà “quan lớn” người Việt thời đó muốn “chơi” đồ gốm Biên Hoà cũng ra đây mua chứ hiếm có cơ hội mua được sản phẩm mới ra lò tại HTX. Việc này đủ để thấy sản phẩm gốm Biên Hoà thời đó có giá như thế nào. Ông Dạng nhớ, một tháng lương của xã viên mới ra trường như ông bằng ba tháng lương công chức.

Một số bức phù điêu ở chợ Bến Thành

Một ngày đầu năm 1952, có một nhà thầu tu sửa chợ Bến Thành từ Sài Gòn lên Biên Hoà đặt trường ông Dạng làm 12 bức phù điêu, bức lớn có kích thước 2,2m x 1,5m, bức nhỏ 2m x 1,4m về đặt ở 4 cửa chợ. Ở mỗi cửa gắn 3 bức, một bức lớn ở trên và hai bức nhỏ ở dưới. Phụ trách ban gốm của trường khi ấy là thầy giáo tài hoa Lê Văn Mậu (sau năm 1975 từng là giảng viên cơ hữu của Trường Đại học Mỹ thuật TP. HCM), nhận trách nhiệm thực hiện đơn hàng.

Ông Dạng nói, ông không biết giá trị đơn hàng khi đó bao nhiêu. Chỉ biết khoảng hai tuần sau, thầy Mậu chuyển trực tiếp xuống HTX cho ông bản phác hoạ mấy bức phù điêu. Ông lấy đất cuốc (cao lanh) từ chiến khu D (ngày trước thuộc Đồng Nai nay thuộc thị xã Tân Uyên tỉnh Bình Dương) để tạo hình, tráng men rồi đưa vào lò nung. Ông Dạng nhớ các công đoạn này làm xong tròn trèm 3 tháng. Trong đó công đoạn nung men được cho là khó khăn nhất vì nhà thầu yêu cầu kỹ thuật rất cao, mang tính trường cửu mới chịu được nắng mưa “đỏng đảnh” của Sài Gòn.

Ông Dạng cho biết, sản phẩm gốm chịu được thời tiết mưa nắng bất thường như vậy thì nhất định phải được nung “cao độ”. Ông đã tự nguyện làm người “canh lửa” cho 12 bức phù điêu. Ông không nhớ rõ chúng được nung trong bao lâu, chỉ nhớ chúng được đưa vào lò một lượt, nung liên tục nhiều ngày bằng củi ở nhiệt độ cao lên đến 4.2800C, trong khi sản phẩm gốm sứ thông thường chỉ cần nung 1.1500C là đủ. Những tấm phù điêu được nung tới độ vật liệu kết thành khối, cứng như đá nên dẫu có bỏ ngoài mưa gió trăm năm cũng không phai sắc.

Vào thời kỳ đó hiếm có hoá chất nhập khẩu dùng cho ngành gốm, màu men dùng cho sản phẩm gốm được nghệ nhân pha chế từ nguyên liệu gốc là đồng để cho ra một hợp chất theo ý muốn, gọi là “men ta”. Còn men nhập cảng gọi là “men tàu”, vì chúng được vận chuyển bằng tàu. Dòng sản phẩm gốm Biên Hoà một thời nổi tiếng Đông Dương cũng chính từ cách pha chế truyền thống này. Do vậy mà 12 bức phù điêu cũng được làm từ men pha chế, tức “men ta”.

Tuy nhiên do lửa trong lò nung không đều nên màu men trên cùng một sản phẩm nhưng có màu sắc đậm nhạt khác nhau. Không riêng gì màu sắc của 12 bức phù điêu, mà hầu hết sản phẩm gốm thời đó đều như vậy. Cụ thể, các hình tượng trên các bức phù điêu ở chợ Bến Thành như đầu bò, cá đuối, nải chuối, con ngan, vịt… có màu trắng, trắng ngà, màu mỡ gà, màu chu… rất hiếm khi thấy trên các dòng sản phẩm gốm hiện thời. Có lẽ do người “canh lửa” không đều vô tình tạo nên “tính độc đáo” của mấy bức phù điêu!

“Nhân chứng” cuối cùng

Sau khi sản phẩm ra lò, thầy Mậu trực tiếp kiểm tra và cho mài giũa sơ qua mấy bức cong vênh. Sau đó giao lại cho ông Dạng cùng với 2 nghệ nhân khác là Võ Ngọc Hảo (mất năm 2016) và Lê Văn Ngà (mất năm 1980) mang xuống chợ Bến Thành lắp đặt. Mới xuống Sài Gòn hai ngày, ông Ngà không chịu nổi cái nắng như rải lửa của tháng giêng nên ngã bệnh và trở về Biên Hoà. Còn lại hai người lắp đặt liên tục gần hai tháng rưỡi mới hoàn thành. Trong suốt thời gian ở đây, buổi tối, cả hai ngủ dưới chân tháp đồng hồ trước chợ.

Bức tượng ông Thọ được ông sáng tác từ năm 1949

Trước khi gặp ông Dạng, chúng tôi đã quan sát rất kỹ những bức phù điêu được gắn lên từ năm 1952. Đến nay hơn nửa thế kỷ trôi qua, chúng vẫn giữ được độ bóng của màu men và không hề thấy có bất kỳ vết rạn nứt nào. Theo ông Dạng, những tấm phù điêu vẫn còn thích hợp và có giá trị lâu dài đối với ngôi chợ truyền thống này. Tại cửa Nam gắn phù điêu hình đầu bò và cá, cửa Tây gắn phù điêu hình cá đuối và nải chuối… Từ năm 1914, khi chợ Bến Thành đi vào hoạt động thì ở những cửa này đã bán các món hàng như biểu tượng. Nhưng mấy chục năm nay không thấy “hai cửa” này bán những món hàng như trên biểu tượng phù điêu nữa. Ông Dạng nói thêm, nhiều năm qua, ông cũng để tâm theo dõi tác phẩm của mình nhưng chưa hề nghe ai chê trách hoặc “mắng vốn” vì chúng bong tróc, rơi rớt hay màu men phai nhạt.

Dù ông là nghệ nhân lão làng nhưng trong nhà ông lưu giữ chưa đến 10 tác phẩm gốm sứ của Đồng Nai. Trong đó có một bức tượng ông Thọ được ông sáng tác khi còn học ở trường. Ông nói tác phẩm này có duyên với ông, vì trong một lần trường tổ chức bốc thăm làm quà cho cựu học viên khoảng giữa năm 1960, ông bốc thăm trúng tác phẩm của mình nên ông rất quý bức tượng này. Rất nhiều tay buôn đồ cổ đến năn nỉ ông mua bức tượng với giá 25 triệu nhưng ông nhất quyết không bán. Khoảng 30 năm, ông “chưng” bức tượng này ở trụ rào trước ngõ cùng với bức tượng Đế Thiên Đế Thích mà màu men vẫn không phai. Sau đó, bức tượng Đế Thiên Đế Thích bị trộm lấy mất, ông sợ mất luôn bức tượng ông Thọ nên gỡ đem vào nhà.

Trong số 170 xã viên cùng ông ở HTX ngày trước, nay chỉ còn lại một mình ông. Người bạn đồng môn thân thiết ở HTX từ năm 18 tuổi là ông Võ Ngọc Hảo, sanh cùng năm, học nghề cùng lớp cũng mất cách đây hai năm. Giờ đây ông trở thành nhân chứng cuối cùng của 12 bức phù điêu gắn nơi cửa chợ Bến Thành. Với ông nó vẫn còn nguyên vẹn, mặc cho thời gian trôi qua hơn nửa thế kỷ. Hỏi rằng có mấy người đời biết đến tên ông!

Cao Thục Đoan

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here