Cựu hoàng Bảo Đại khi còn trẻ

Kỳ cuối: “Mật chỉ” trước phiên tòa và bản kết luận khó lường

Cuộc đấu lý giữa các luật sư

Như đã thông báo từ trước, phiên toà đăng đường vào sáng ngày 10/1/1975, không có sự thay đổi đáng kể nào. Hai LS. Baudelot, Guibal và cố vấn Trần Thành Quan được sứ quán Sài Gòn ở Paris đưa đến văn phòng ông chánh án từ khá sớm. Trong khi cựu hoàng Bảo Đại cùng đi với luật sư của ông là bà Eliette Lascar và một cộng sự của bà cũng có mặt vài phút sau đó.

Mở đầu cuộc tranh luận, LS. Eliette Lascar đã lần lượt đưa ra nhiều chứng cứ quan trọng như bằng khoán nhà đất, chứng từ liên quan đến việc mua bán ngôi nhà số 89 từ năm 1949, chứng từ nộp thuế… tất cả đều mang tên Vĩnh Thụy, tức Bảo Đại. Bà cho rằng sắc luật 17/57 của chính quyền Sài Gòn tịch thu tài sản của cựu hoàng không thể áp dụng trên đất Pháp. Sứ quán Sài Gòn tại Paris từ năm 1957 cho đến thời điểm phiên toà diễn ra đã chiếm ngụ vô quyền bất động sản này. Ngôi nhà số 89 kể từ lúc cựu hoàng sở hữu nhưng, do hảo ý nên cựu hoàng đã để cho nguyên Cao uỷ Phủ Việt Nam tại Pháp sử dụng làm tư thất. Và, sau đó hết nhiệm kỳ đáng lý được giao trả cho cựu hoàng đã bị tiếp tục chiếm ngụ mà không có sự ưng thuận của cựu hoàng.

Để chứng minh việc này, LS. Eliette Bascar đã xuất trình một bức thư bằng pháp ngữ của cựu Cao uỷ vào thời kỳ đó là Bửu Lộc mà bà cho biết vừa nhận được nên chưa kịp nạp vào hồ sơ vụ việc. Nội dung bức thư xác nhận ngôi nhà số 89 đã được cựu hoàng giao cho cựu Cao uỷ sử dụng cho đến khi hết nhiệm vụ vào năm 1954, trên nguyên tắc phải được giao trả lại cho cựu hoàng. Bà LS. Eliette Lascar nói thêm, mới đây chính quyền Sài Gòn đã gián tiếp thừa nhận ngôi nhà trên là của cựu hoàng. Bằng chứng là phó thủ tướng Trần Văn Đôn trong một bức thư đề ngày 30/10/1974, bằng Việt ngữ gửi cựu hoàng cho biết là vấn đề đã được trình lên tổng thống và đang được hội đồng nội các mang ra cứu xét.

Phản bác lại lời trình bày của luật sư cựu hoàng, LS. Baudelot cho rằng trong trường hợp này nên áp dụng điều 31, Hiệp ước Vienne (1961) về quyền đặc miễn tài phán mà chính quyền Sài Gòn tham gia vào 1973, chỉ có thể bãi miễn trong trường hợp có một tố quyền đối vật liên quan đến một bất động sản – trừ khi nhân viên ngoại giao chấp hữu nhân danh quốc gia đại diện. Trong hiện vụ, nguyên đơn xin trục xuất như vậy “tố quyền” là đối nhân thì không thể truất quyền đặc miễn trừ. Hơn nữa vị trưởng nhiệm của sứ quán đã chấp hữu căn nhà nói trên nhân danh quốc gia kể từ khi có sắc luật tịch thu tài sản 1957. LS. Baudelot xin toà khẩn cấp tuyên bố vô thẩm quyền và để nguyên đơn khởi tố về chánh vụ trước toà án dân sự.

Cựu hoàng Bảo Đại

Tuy nhiên, trong cuộc tranh luận ngay sau đó về các sự kiện đã diễn ra, LS. Eliette Lascar nêu ra một số điểm đáng lưu ý như: Ngôi nhà số 89 đã bỏ trống từ lâu, sau khi có tranh chấp người của sứ quán mới dọn về ở. Còn trước đó có đại sứ Phạm Đăng Lâm cũng đã có tư thất nơi khác. Ngay cả trước khi dọn về đây, đại sứ đương nhiệm cũng không cư ngụ trong ngôi nhà này mà có tư thất ở đường Berri. Như vậy, trong mọi trường hợp nhà ở riêng của đại sứ không thể xem như một trụ sở cho hoạt động của sứ quán, và sự trục xuất không gây trở ngại công tác cho đơn vị này.

Cố vấn Trần Thành Quan xin phép ông chánh án, trả lời rằng ngôi nhà trên đã được sử dụng làm trụ sở cho phòng quyền lực, văn hoá, xã hội của sứ quán từ 1954 – 1966. Từ lúc đó ngôi nhà vừa dùng làm tư thất vừa dùng làm trụ sở để tiếp khách và mở các cuộc tiếp tân khoản đãi…

Sau khi nghe hai bên tranh luận, ông chánh án cho rằng đây là vụ tranh tụng hết sức tế nhị, và, nguyên đơn cho biết chính quyền Sài Gòn đang xem xét một giải pháp để dàn xếp vậy hai bên có đồng ý đình phiên toà lại để sứ quán xin xác nhận sự kiện trên hay không?

Sau khi hội ý với đại sứ Quang, LS. Baudelot đại diện cho sứ quán Sài Gòn xin ông chánh án cho đình phiên xử lại 2 tuần. LS. Eliette Lascar đại diện cho cựu hoàng cũng không phản đối.

Trước khi rời phòng xử, cố vấn Trần Thành Quan đã đến xin LS. Eliette Lascar gởi cho ông ta, hoặc các luật sư Baudelot, Guibal bản sao các bức thư trao đổi qua lại giữa cựu Cao uỷ Bửu Lộc với cựu hoàng và phó thủ tướng Trần Văn Đôn. Hoặc, cũng có thể nạp các văn bản trên vào hồ sơ vụ việc cho ông chánh án để các luật sư của sứ quán có thể sao lục lại.

Trước khi nhận chỉ thị từ những người cao nhất của Sài Gòn, đại sứ Quang đã đánh đi một bức mật điện cho Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc, nội dung bức điện xin ông ta gửi liền cho mình chỉ thị để kịp thời đối phó với phiên toà sắp tới. Vị quan chức này khẳng định các quan điểm pháp lý của luật sư sứ quán đưa ra trong phiên toà vừa qua tương đối vững chắc, và, Bộ Ngoại giao Pháp có hứa sẽ không can thiệp nhưng vẫn có thể ông chánh án tuyên trục xuất ra khỏi ngôi nhà số 89.

Phiên tòa kết thúc trong im lặng

Ngày 13/1/75, sứ quán Sài Gòn ở Paris đã gửi về cho chính quyền Sài Gòn bản phúc trình dài vằn vặt về phiên toà đã qua, đồng thời thông báo phiên toà đã được đình lại hai tuần để hai bên cung cấp thêm chứng lý. Sau khi nhận được bản phúc trình, Vương Văn Bắc đã chỉ thị ngay cho sứ quán, trong phiên toà tới các luật sư không nên tranh luận về nội dung hiện vụ, mà chỉ nên nêu vấn đề chính phủ Pháp phải tôn trọng quyền đặc miễn tài phán của sứ quán Sài Gòn, theo điều 31, của Hiệp ước Vienne về liên lạc ngoại giao. Điều 31 đã qui định: nhân viên ngoại giao được hưởng quyền đặc miễn tài phán trong những vụ kiện liên quan đến bất động sản mà nhân viên này chấp hữu nhân danh quốc gia bổ nhiệm để thi hành nhiệm vụ được giao phó.

Mặc dù vậy, Vương Văn Bắc cũng tỏ ra lo sợ thật sự, nên ngay sau đó đã chỉ thị tiếp cho sứ quán ở Paris thảo một công thư khẩn gửi trực tiếp cho ông chánh án để trình bày riêng. Công thư nói là trong vụ này sứ quán được hưởng quyền đặc miễn trừ, còn sự xuất tịch trước toà chỉ là một cử chỉ chứng tỏ sự tôn trọng đối với cơ quan tư pháp nước sở tại. Chứ tuyệt đối không có nghĩa là sứ quán khước từ quyền đặc miễn tài phán. Kèm theo đó là “mật chỉ” cho sứ quán Sài Gòn không xuất tịch trước phiên toà ngày 24/1 tới.

Từ đây có thể có hai giải thuyết được đặt ra cho những người quan tâm đến phiên toà, đặc biệt là giới ký giả phương Tây. Rằng, phiên toà ngày 24/1, tuyên bố vô thẩm quyền. Điều này sẽ là một thắng lợi cho chính quyền Sài Gòn, tuy nội vụ vẫn chưa giải quyết xong. Giải thuyết thứ hai, rằng phiên toà cứ thụ lý và với sự vắng mặt đại diện của chính quyền Sài Gòn, toà tuyên án trục xuất, trong trường hợp này đại sứ Quang vẫn không bị trục xuất vì có thể nêu lên quyền đặc miễn chấp hành bản án, chiếu theo điều 31, Hiệp ước Vienne. Tuy nhiên ảnh hưởng chính trị sẽ bất lợi cho chính quyền Sài Gòn, vì vấn đề này có tính cách chính trị quan trọng hơn là pháp lý.

Tuy tổng trưởng Bắc đã chỉ thị cho sứ quán Sài Gòn ở Paris không tham dự phiên toà nói trên, nhưng sau khi thủ tướng Trần Thiện Khiêm biết chuyện đã ra lệnh triệu tập ngay hội đồng nội các và đi đến quyết định: Vụ việc đã được đưa ra toà án nên chính quyền Sài Gòn không đặt vấn đề điều đình với cựu hoàng nữa, mà chấp nhận lập trường và quyền đặc miễn tài phán. Đồng thời yêu cầu Bộ Ngoại giao chuẩn bị bản tin về vấn đề này để phổ biến công khai trong ngoài nước nhằm trấn an dư luận.

Ngày 24/1/1975, ông chánh án Vassogne toà án đại thẩm Paris đã căn cứ vào Hiệp ước Vienne để bác bỏ đơn xin trục xuất của cựu hoàng Bảo Đại. Như vậy cựu hoàng Bảo Đại đã thất bại và luật sư của ông cho biết sẽ xem xét có thể kháng cáo án lệnh khẩn cấp nói trên ra trước toà dân sự.

Ba tháng sau phiên toà cựu hoàng thất kiện, lịch sử dân tộc Việt Nam sang trang, đương nhiên trong đó có vụ tranh chấp ngôi nhà 89 cũng chấm dứt! Và, cũng kể từ đó vụ kiện đã kết thúc trong im lặng.

Cao Thục Đoan

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here