Sư cô Diệu Thông - Huyền Trang ngày nay

Nhà tu hành nuôi ý chí đi theo cách mạng

Am nhỏ của sư cô Diệu Thông nằm phía sau Thất Bửu tự, đi vài bước chân là đến bờ Hậu Giang sóng nước mênh mông. Bữa cơm của người ăn chay từ tấm bé chỉ đơn sơ đĩa rau luộc, chén tương, bát canh nấm rơm đen nấu cùng dăm miếng đậu phụ trắng. Quanh am, sư cô vẫn tự tay chăm mấy luống rau. Bà bảo bà có lương hưu nhưng tiền đó bà để dành giúp đỡ những người khốn khó. 87 tuổi, sức khoẻ đã giảm sút rất nhiều, bệnh nọ tật kia cũng đã ghé thăm làm bà nay ốm mai đau, mỗi tháng mấy lần phải đi xe khách lên Sài Gòn kiểm tra bệnh tật và lấy thuốc. Song bà nói chuyện vẫn rõ ràng, mạch lạc.

Nghe tôi nhắc chuyện người ta lấy bà làm nguyên mẫu cho nhân vật ni cô Huyền Trang nổi tiếng, bà cười bảo: “Chuyện đã qua lâu lắm”. Bà lại cười hiền từ khi tôi hỏi về quãng thời gian bà tham gia cách mạng. Bà lý giải bằng tâm thế của người nhà Phật: “Cách mạng là cách xa cái mạng của mình, như thế cũng là vô ngã. Bộ phim “Biệt động Sài Gòn” có vài chi tiết hư cấu so với đời thực bần ni nhưng vẫn chấp nhận được, ngoại trừ chi tiết yêu Tư Chung. Vì bần ni đã hướng đến cửa thiền từ ngày nhỏ xíu nên không bao giờ nghĩ đến chuyện yêu đương. Mà bần ni nhớ ngoài đời đánh nhau ác liệt lắm, đau thương hơn nhiều so với cảnh trong phim”.

Sư cô Diệu Thông sinh ra trong gia đình có đến 12 anh chị em ở Sa Đéc – Đồng Tháp. Cha bà – cụ Phạm Văn Vọng (sau này là Hoà thượng Giác Quang – người thành lập và trụ trì chùa Thất Bửu) vốn là thợ nước ở Sài Gòn. Chứng kiến những áp bức bất công, ông bỏ việc lên núi Cấm (An Giang) đi tu. Mẹ của bà thì tu trong một ngôi chùa ở Sa Đéc. Đàn con 12 đứa, trai theo cha lên núi, gái vào chùa theo mẹ tu hành.

Ni cô Diệu Thông – bí danh Huyền Trang ngày mới tham gia cách mạng 

Sư cô Diệu Thông quy y năm 9 tuổi. Mười lăm năm sau, vì muốn Diệu Thông trọn đời theo đạo nên cụ Vọng gửi con gái ra ni trường ngoài Huế. Đúng năm đó miền Trung lũ lụt, thiên tai, Diệu Thông cùng các tăng ni theo xe của chùa đi phát gạo cứu đói. Lợi dụng hoạt động hợp pháp của nhà chùa, xe chạy thẳng lên chiến khu tiếp gạo cho bộ đội. Hôm đó xe gặp nạn, mọi người bình an, riêng Diệu Thông bị kẹt trong xe và bị thương ở đầu. Nhà cầm quyền biết chuyện, sinh nghi và có cớ buộc ni trường đuổi học một số tăng ni, trong đó có Diệu Thông.

Bà về Sài Gòn, mang theo nỗi buồn của người trắc trở đường tu sau 5 năm trời học tập, không làm tròn ý nguyện của cha. Năm 1959, bà từ Sài Gòn về quê Sa Đéc, đúng thời điểm chiến dịch tố cộng, diệt cộng đẫm máu đang diễn ra. Chứng kiến máy chém lê khắp nơi, máu đào nhuộm đất, sư cô Diệu Thông đã nghĩ: “Những người tu hành chân chính luôn cầu mong cho con người ở trên đời này được sống hiền hoà. Nhưng chỉ ngồi một chỗ cầu kinh niệm Phật không thôi thì làm sao có cuộc sống hiền hoà với bọn quỷ được”. Cuối cùng, bà đưa ra quyết định được xem là táo bạo, bứt phá trong giới tu hành: Lên Sài Gòn, tu hành tự lập và nuôi ý chí đi theo cách mạng.

Mắt xích không thể thiếu của đội biệt động huyền thoại

Góc đường Trần Quốc Toản (nay là đường Ba tháng Hai, P.12, Q.11, TP.HCM) ngày đó đầy nước đọng, bùn lầy, quanh quất chỉ thấy những ngôi nhà mái lá của khu ổ chuột. Ni cô Diệu Thông cùng người cháu (cũng là một nhà tu hành) đã từng ngày cóp nhặt vật liệu, tự tay dựng lên một ngôi chùa mái lá. Ni cô bắt đầu tính đến việc phải làm sao có được cơ sở hợp pháp để bám trụ lâu dài giữa thủ phủ của chính quyền Mỹ – Ngụy.

Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước CHXHCNVN tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất cho sư cô Diệu Thông năm 1985

Chỉ bằng hai bàn tay trắng, ni cô Diệu Thông đã se nhang, làm tương, trồng rau bán lấy tiền mua đầm rau muống gần ngàn mét. Từng ngày, bà dùng rác, phế liệu đi xin khắp vùng về đổ xuống, san lấp mặt bằng để có chỗ xây chùa. Chùa Bổn Nguyện đã ra đời như thế. Bấy giờ bà chỉ muốn sống xả thân đánh kẻ thù, đòi lại độc lập tự do cho dân tộc. Nhờ cơ duyên, ni cô Diệu Thông được sư cô chùa Phước Huệ (thuộc quận Bình Tân ngày nay) dẫn dắt đến với cách mạng, trở thành chiến sĩ Biệt động Sài Gòn – Gia Định (F100) lừng lẫy sau này.

Chùa Bổn Nguyện dần dần có nhiều Phật tử lui tới và cũng trở thành nơi may cờ, in ấn tài liệu, truyền đơn cho cách mạng. Đường tu của ni cô Diệu Thông bước sang trang mới. Bà mang bí danh Huyền Trang và trở thành mắt xích không thể thiếu trong những hoạt động bí mật ở Sài Gòn. Đêm đêm, chùa Bổn Nguyện vẫn vang tiếng tụng kinh niệm Phật nhưng trong gian buồng bí mật nuôi giấu cán bộ cách mạng, Huyền Trang cùng các đồng chí của mình đang đánh máy, in truyền đơn và đem rải ngoài phố trong bóng áo nâu sồng.

Nhớ lại những ngày kiên gan hoạt động, sư cô Diệu Thông bây giờ – ni cô Huyền Trang ngày ấy – kể, giọng bà nghèn nghẹn: “Trong các trận đánh, bần ni luôn là người dẫn đường, chỉ điểm. Những trận xuất phát từ chùa ngày một nhiều hơn và mạnh hơn. Chùa cũng là nơi đầu tiên chứng kiến những chiến sĩ biệt động, những đồng đội của bần ni ra đi không bao giờ trở lại. Đó là trận đánh xe bus chở lính Mỹ từ cư xá trên đường Nguyễn Văn Thoại ra phi trường, bần ni giữ nhiệm vụ dẫn đường, chỉ điểm, để hai nữ đồng chí (cũng là 2 nữ tu) khác là Tám A và Ngoan đánh xe.

Khi hai đồng chí chạy xe máy đến thì xe bus chở lính Mỹ vừa rời đi. Sợ lỡ mất cơ hội nên Tám A cho xe chạy theo, Ngoan ngồi sau, rút chốt lựu đạn thả vào hông xe bus. Sau tiếng nổ kinh hoàng là chiến thắng và cũng là sự anh dũng hy sinh của hai người đồng đội. Nhìn Tám A và Ngoan bất toàn thây, lòng bần ni quặn thắt mà không dám lại gần vì lúc đó dày đặc cảnh sát và mật vụ”.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam trao tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng 3 cho sư cô Diệu Thông năm 1969

Lắng lòng về lại cửa thiền

Sau nhiều chiến công của Huyền Trang – ni cô Diệu Thông, địch nghi ngờ và theo dõi gắt gao chùa Bổn Nguyện. Tìm cách quấy phá chùa không được, chúng ra tay đốt chùa và toàn bộ những ngôi nhà mái lá lân cận. Ni cô Diệu Thông bị địch bắt nhưng chúng phải trả tự do cho bà vì không đủ chứng cớ buộc tội. Sau đó bà chuyển về Lữ đoàn 316 tiếp tục chiến đấu cho đến ngày đất nước thống nhất.

Cuộc đời hoạt động cách mạng của ni cô Diệu Thông đã đi vào lịch sử. Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ hiện nay trang trọng đặt chiếc áo tu hành và tấm khăn trùm màu vàng úa của bà, đó là chứng nhân có thật của lịch sử. Chiếc xe Honda ngày bà chạy khắp Sài Gòn chở biệt động đi đánh Toà Đại sứ, Dinh Độc lập… bà cũng tặng lại Bảo tàng làm tư liệu.

Nghỉ hưu, sư cô Diệu Thông về lại Đồng Tháp, cùng các Phật tử khai hoang hơn 300 ha đất để canh tác. Sau này, bà về chùa Thất Bửu tiếp tục đường tu, bởi đó là nơi cha bà đã một tay gây dựng. Bà bảo: “Bần ni đã 87 tuổi, anh em 12 người nối gót song thân bước vào đường tu, họ đã mất gần hết. Bây giờ bần ni chỉ còn người anh thứ 8 đang tu ở TP.HCM và hai người chị đang tu tại gia. Tuổi già sức yếu nên thỉnh thoảng anh chị em mới gặp nhau. Đội Biệt động năm xưa cũng chỉ còn lại một mình bần ni, đồng đội đã đi vào cõi hư vô hết thảy. Nhiều năm nay bần ni chỉ lo kinh kệ để tâm thanh tịnh và nguyện cầu cho quốc thái dân an”.

Bà Phạm Thị Bạch Liên (tên tục của ni cô Diệu Thông, bí danh Huyền Trang) nhập ngũ tháng 10/1960, nghỉ hưu ngày 1/6/1982 với hàm Thượng sĩ, thuộc Phòng Tham mưu – Bộ Tư lệnh TP.HCM. Tháng 7/1969, bà được Ủy ban Trung ương Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam trao tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng 3. Tháng 3/1985, bà được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước CHXHCNVN tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Ngày 19/08/2011, Tổng cục 2 – Bộ Quốc phòng tặng bà kỷ niệm chương vì những cống hiến xây dựng ngành tình báo quốc phòng Việt Nam. Tháng 3/2015, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong sư cô Diệu Thông lên hàng Ni trưởng. Hiện tại bà đang sống và tu hành tại chùa Thất Bửu (thị trấn An Châu, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang).

Quân Trần

Gửi phản hồi