Giáo sư Nguyễn Đức Tồn

Được phong giáo sư “vì tinh thần nhân văn” – một sự thiếu tôn trọng những người trung thực

Nghi án đạo văn của GS. Nguyễn Đức Tồn – nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam được biết đến từ năm 2007. Ông bị tố cáo là đã đạo nhiều nội dung trong luận văn, luận án và bài viết của chính học trò mình và những đồng nghiệp thế hệ sau.

Theo đó, cuốn sách “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)” – NXB ĐHQG Hà Nội 2002 được cho là đã lấy gần như toàn bộ luận án phó tiến sĩ của bà Nguyễn Thúy Khanh có tên “Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật” được bảo vệ năm 1996 tại Viện Ngôn ngữ học.

Cuốn sách này cũng được cho là đạo gần như toàn bộ 96 trang luận văn tốt nghiệp đại học của sinh viên Cao Thị Thu, chuyên ngành Ngôn ngữ học, khóa 1991-1995 của ĐH Tổng hợp Hà Nội. Luận văn có tên “Đặc điểm định danh và ngữ nghĩa trường từ vựng tên gọi thực vật trong tiếng Việt”.

Cuốn sách thứ hai là “Những vấn đề dạy và học trong nhà trường, Phương pháp dạy và học tiếng Việt ở bậc THCS” – NXB ĐHQG Hà Nội của GS. Nguyễn Đức Tồn có đưa nguyên vẹn bài báo “Dạy từ láy cho học sinh THCS” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà.

Tuy nhiên, sau 7 năm lăn lóc, cuối cùng Hội đồng chức danh Giáo sư ngành cũng đã bỏ phiếu tuyệt đối thông qua hồ sơ của Giáo sư Tồn. Về việc này, mới đây GS Trần Ngọc Thêm, Chủ tịch Hội đồng Chức danh Giáo sư ngành Ngôn ngữ học khẳng định, việc ông Nguyễn Đức Tồn đạo văn của học trò là có thật. Việc đạo văn đã khiến ông Tồn trải qua 7 năm hồ sơ xét giáo sư không được thông qua, tuy nhiên cuối cùng đến năm 2009 vẫn được thông qua vì tinh thần nhân văn và lòng vị tha.

Cuốn sách của giáo sư Nguyễn Đức Tồn (trái) được cho là đạo từ luận văn và luận án của người khác

“Với tinh thần nhân đạo và nhân văn của truyền thống văn hóa Việt Nam, vì sự đoàn kết và phát triển chung của ngành, các thành viên Hội đồng đã đồng ý đưa ông Tồn vào danh sách bỏ phiếu kín. Kết quả là ông Tồn đã được thông qua với số phiếu 10/10. Tôi nói là “tinh thần”, bởi vì ngồi xem lại biên bản, có thể thấy rất rõ tinh thần chủ đạo là khoan dung, tha thứ, là cái chất “trọng tình” đậm nét của văn hóa truyền thống Việt Nam” – Giáo sư Thêm nói.

Chưa bao giờ câu chuyện liên quan tới cụm từ “Giáo sư, Phó Giáo sư” lại nóng bỏng như thời gian vừa qua. Hầu như trên khắp các mặt báo, các diễn đàn liên quan đến khoa học, nhân văn, văn hoá… đều có những vấn đề được nêu ra. Mới đây nhất là thông tin: Trong số hơn 1.600 giáo sư ở Việt Nam hiện nay chỉ có khoảng gần 300 người đang còn làm việc, nghiên cứu. Bên cạnh đó là nghi án đạo văn của vị Giáo sư Nguyễn Đức Tồn. Nóng bỏng, gây “shock” hơn nữa là ý kiến của Giáo sư Trần Ngọc Thêm, rằng sở dĩ ông Tồn được phong Giáo sư là vì tinh thần nhân văn. Vì hồ sơ của ông Tồn đã bị “treo” đến 7 năm, người ta không nên phải gánh chịu hậu quả do mình gây ra suốt đời…

Thực sự là câu chuyện này đã khiến cho tất cả những ai tôn trọng kiến thức, tôn trọng sức lao động trí tuệ, tôn trọng sự trung thực bị xúc phạm. Và chúng tôi tin rằng, những Giáo sư chân chính, nỗ lực làm việc, nghiên cứu, sáng tạo để có được chức danh Giáo sư cũng sẽ cảm thấy bị xúc phạm.

Tại sao trong ngành giáo dục, ở tầng bậc tri thức cao như công nhận Giáo sư lại có thể có một việc làm khó chấp nhận đến vậy? Tại sao người ta có thể nể nang nhau, “thương hại” nhau, tặc lưỡi bỏ qua những căn cứ quan trọng, bịt mắt bịt tai, ngó lơ đi, chẹp miệng cho nhau một lá phiếu? Những người bỏ phiếu hẳn là cũng ít nhiều cảm thấy hổ thẹn với bản thân, về cái trách nhiệm, cương vị mà mình đang nắm giữ chứ? Ngồi trong hội đồng xét duyệt hồ sơ, thấy thiếu thuyết phục, mà chỉ vì lý do hoàn toàn cảm tính đã chấp nhận bỏ qua mọi nghi vấn, chứng cứ. Mà hẳn là cả 10/10 người trong hội đồng đều đồng thuận mới lạ.

Dư luận được quyền đặt câu hỏi: Vậy thì thực tế trong số 1600 Giáo sư mà chúng ta đang có, sẽ có bao nhiêu Giáo sư được phong theo cảm tính, theo tinh thần nhân văn như Giáo sư Tồn? Thiết nghĩ, đây thực sự là một sự việc gây mất niềm tin nghiêm trọng trong xã hội. Đến Giáo sư còn “quay cóp” được thì hỏi gì sinh viên, học sinh. Các bậc phụ huynh cũng được quyền đặt ra câu hỏi, rằng con cái họ đang học những người như thế nào? Tất nhiên, cũng sẽ có người nói, rằng con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng con sâu nhỏ thì còn cố được, chứ sâu to quá thì e rằng sẽ gây hoang mang lắm.

Rồi sau đó, ông Tồn được bổ nhiệm những chức vụ quan trọng, ông thậm chí còn ngồi trong hội đồng chấm hồ sơ của những người khác nữa.

Nhất quyết đề nghị tăng thuế môi trường – Bộ Tài chính nghe hay không nghe dư luận?

Trước khi chính thức đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) về việc tăng thuế bảo vệ môi trường (BVMT), Bộ Tài chính đã lấy ý kiến các bộ – ngành. Đáng chú ý, hàng loạt bộ chưa đồng thuận, lưu ý Bộ Tài chính phải hết sức cân nhắc.

Bộ Tài chính cho rằng giá bán lẻ xăng, dầu ở Việt Nam đang ở mức thấp so với các nước có chung đường biên giới

Thế nhưng, rốt cuộc, Bộ Tài chính vẫn đệ trình lên UBTVQH, trong đó bảo lưu đề xuất: tăng thuế BVMT trong giá xăng từ 3.000 đồng lên mức kịch khung 4.000 đồng, giá dầu các loại lên mức chung 2.000 đồng.

Lý lẽ tăng thuế BVMT của Bộ Tài chính hết sức chung chung, trong đó tập trung 2 cụm lý do chính: (1) giá bán lẻ xăng, dầu ở Việt Nam đang ở mức thấp so với các nước có chung đường biên giới; giá xăng, dầu Việt Nam đứng vị trí 47 từ thấp đến cao trong tổng số 167 quốc gia (thấp hơn 120 nước); và (2) việc tăng thuế còn phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội; bảo đảm lợi ích quốc gia trong điều kiện hội nhập sâu khi thực hiện cắt giảm dần thuế nhập khẩu theo các cam kết quốc tế…

Đồng thời, lãnh đạo Bộ Tài chính cho rằng, đề xuất tăng kịch trần thuế môi trường đối với xăng dầu vẫn nằm trong khung và không vấp phải sự phản ứng của dư luận

Đây không phải là lần đầu tiên chúng tôi nhắc đến đề án này. Tuy nhiên, cách biện giải của Bộ Tài chính thực sự là không thuyết phục. Đầu tiên, được biết là hiện nay mới chỉ có 1/3 thuế môi trường được sử dụng cho việc bảo vệ môi trường, còn lại dùng cho mục đích khác. Tức là, nếu tiếp tục tăng thuế môi trường, thì rõ ràng là việc tăng này chỉ để bù đắp cho các thâm hụt khác của ngân sách Nhà nước. Mà ngân sách Nhà nước đã và đang được chi tiêu ra sao thì là một vấn đề đang gây đau đầu. Vô cùng đau đầu.

Thứ hai, việc tăng thuế cho dù là để bù vào ngân sách đang thâm hụt, có thể sẽ ngay lập tức tăng ngân sách (như tạm tính là khoảng hơn 15 ngàn tỉ), nhưng cũng sẽ không lâu nữa, rất gần thôi, tất cả các khoản thuế khác sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Dễ thấy nhất là doanh thu của các doanh nghiệp sẽ giảm đi do chi phí đầu vào tăng cao, đồng nghĩa với việc số thuế nộp vào ngân sách sẽ giảm đi. Như vậy, tính hơn thiệt thì cũng chưa biết hay dở thế nào. Trong khi đó, xăng tăng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ đời sống xã hội, đặc biệt là tầng lớp người dân có thu nhập thấp.

Vậy thì, xin hỏi Bộ Tài chính một câu thôi, rằng Bộ Tài chính có quan tâm đến hàng ngàn ý kiến phản đối của người dân trên hầu hết các tờ báo, trang tin, mạng xã hội về vấn đề này không? Thời buổi mọi thứ thông tin đều công khai, minh bạch, rành mạch trên mặt báo, vào tận từng ngõ ngách một mà Bộ Tài chính vẫn duy trì cái kiểu lý luận bịt tai, bịt mắt như vậy thực sự là rất thiếu thuyết phục. Và những ý kiến trong số 77 ý kiến đồng thuận kia, thực ra là từ các tổ chức, ban ngành nào? Chưa kể, con số 77 là con số quá nhỏ, quá quá nhỏ so với một xã hội hơn 93 triệu dân. Không thể lấy đó làm căn cứ thuyết phục để cứ bất chấp mà làm được.

Hi vọng rằng, áp lực từ dư luận, từ những người sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng, ảnh hưởng ở mức độ bao trùm, sẽ khiến cho ý kiến của Bộ Tài chính cần được xem xét, cân nhắc kĩ lưỡng, cẩn trọng hơn.

Đỗ Hà

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here