Đề xuất của một vị giáo sư khá khôi hài, mà lại vừa buồn. Cười vì: Đó là chuyện ở trên lưng chừng trời chứ không phải mặt đất. Thành lập Viện Đạo Đức để “dạy cán bộ đạo đức và những chuẩn mực đạo đức trong Đảng” thì dạy được không và dạy ra sao, đối tượng học từ cán bộ cấp nào? Dạy đạo đức – luân lý cho trẻ nhỏ, cho học sinh phổ thông thì được, chứ dạy đạo đức cho bí thư, chủ tịch tỉnh, bộ trưởng, thứ trưởng, giám đốc sở văn hóa, giám đốc sở giáo dục và đào tạo… ư?

Buồn là vì: Câu chuyện khôi hài, nhưng lại thêm một lần khẳng định: Đạo đức đã xuống cấp nghiêm trọng đến mức nhiều người đề xuất các biện pháp cần phải vực dậy, cứu vãn, dù có những ý tưởng thực tế sinh động có ích, có những đề xuất viển vông, mơ mộng, khôi hài.

                           Nhà văn Sương Nguyệt Minh

Căn cứ vào đâu để PGS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Lịch sử Đảng đề xuất thành lập Viện Đạo Đức học? Vị cựu viện trưởng này trình bày: “…Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết kinh nghiệm và đề ra nội dung căn bản, toàn diện về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Hồ Chủ tịch thẳng thắn cho rằng, trong Đảng đã xuất hiện những thứ bệnh nguy hiểm như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, chủ nghĩa cá nhân…”.

Và như vậy, cần phải thành lập Viện Đạo Đức học, viện này sẽ “dạy cán bộ đạo đức và những chuẩn mực đạo đức trong Đảng”. Thế là xôn xao. Thế là ầm ĩ. Dư luận càng khó chấp nhận khi chủ trương tinh giảm biên chế đang nóng hổi diễn đàn và cả đời sống xã hội.

                   PGS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng

Có một thực tế là chỉ 2 năm sau khi Cách mạng tháng Tám thành công thì trong đội ngũ cán bộ đã có người hiếu danh, thiếu kỉ luật, bè cánh, chủ nghĩa cá nhân rồi, phải nghiêm trọng lắm đến mức Cụ Hồ phải viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” vừa để phê phán, vừa chấn chỉnh, uốn nắn, hướng dẫn cán bộ lãnh đạo rèn luyện phấn đấu, giữ đúng phẩm chất người cán bộ cách mạng. Từ đó, đến nay đã 70 năm không có ai nghĩ ra phải thành lập một Viện Đạo đức học, hay có người đã đề xuất thành lập viện này mà ý tưởng không trở thành hiện thực, bởi những người có trách nhiệm thấy không cần thiết?

Tôi thì cho rằng: Nếu thành lập Viện Đạo đức học, nhiệm vụ của nó phải là: Nghiên cứu khoa học về đạo đức. Thời hiện đại, đạo đức đang xuống cấp nặng nề, cần phải nghiên cứu khoa học một cách có hệ thống quá trình phát sinh, phát triển đạo đức của xã hội loài người nói chung và đạo đức phong kiến, đạo đức tư bản, đạo đức cộng sản, đạo đức phương Tây, đạo đức phương Đông, đạo đức thời cổ đại, đạo đức thời kinh tế thị trường…vv… để tham mưu cho Nhà nước có những chiến lược chấn hưng đạo đức dân tộc. Còn dạy đạo đức thì lại thuộc về gia đình, trường học phổ thông, và dạy từ nhỏ.

Thời trước, đứa bé vào tiểu học được học môn Luân lý, về sau gọi là môn Đạo đức, còn bây giờ là “Giáo dục lối sống”. Học sinh tiểu học sẽ học môn Giáo dục lối sống 70 tiết, còn từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông được học môn Giáo dục công dân. Dù là Giáo dục lối sống hay Giáo dục công dân thì trong đó vẫn có những bài giáo dục đạo đức, giáo dục làm một con người đúng nghĩa. Chỉ có điều chương trình, cách dạy thế nào, và sản phẩm con người ra sao thì cần phải bàn.

Không chỉ gia đình, nhà trường mà xã hội, đặc biệt là xã hội thịnh trị, đều chú ý giáo dục đạo đức. Thời xưa, đạo làm con  thì phải  biết “Nhị thập tứ hiếu” mà học, mà phấn đấu. “Nhị thập tứ hiếu” là tấm gương 24 người con có hiếu với cha mẹ. Chẳng hạn như: Đường Thi cho mẹ chồng bú sữa. Châu Thọ Xương bỏ chức quan tìm mẹ, hay Hoàng Đình Kiên tự tay rửa bô cho mẹ. Mẫn Tử Khiên hiếu với mẹ kế…vv. Con gái thì được giáo dục theo chuẩn mực “Tam tòng tứ đức”: Ở nhà thì theo cha. Lấy chồng theo chồng. Chồng chết theo con trai; chuẩn bốn đức ấy là: Công. Dung. Ngôn. Hạnh. Thời bây giờ, người phụ nữ phấn đấu theo chuẩn mực: Kính trọng cha mẹ, yêu chồng, thương con; đảm việc nhà nhưng lại làm tốt việc nước. Mỗi thời đại có những chuẩn mực đạo đức khác nhau và được dạy dỗ một cách công phu “mưa dầm thấm lâu”, chưa bao giờ chờ đến khi làm ông quan đầu huyện, quan đầu tỉnh mới đi học đạo đức. Dạy đạo đức phải từ bắt đầu quá trình đứa trẻ hình thành nhân cách đến khi ổn định. Uốn măng non không thành lại nghĩ ra việc uốn tre già thì sao mà ngay thẳng được!

Ông phó giáo sư này đề xuất: “Cán bộ là gốc, nhưng huấn luyện cán bộ là công việc của Đảng. Trên cơ sở đó, tuyển chọn những người mẫu mực về đạo đức lên giảng.” Lấy tiêu chuẩn gì để “chấm” chính xác chọn ra “người mẫu mực về đạo đức” để giảng bài? Căn cứ vào đâu để xác định cán bộ lãnh đạo thiếu đạo đức, không có đạo đức… cần phải đi học? Mở học ngoại ngữ thì người ta đua nhau đi học. Mở học kỹ năng sống thì nộp đơn tới tấp. Mở lớp huấn luyện các mẹ bỉm sữa nuôi con nhỏ thì rủ nhau đi rào rào. Mở học lớp bồi dưỡng làm giàu không khó thì nô thức gần xa… Bởi thiếu cái gì, người ta học cái đó. Mở Viện đạo đức… thì có ai dám tự nguyện đăng ký, có ai đủ can đảm đến… học? Chả lẽ tự thấy mình chưa có đạo đức, tự nhận ra mình sống gian dối, tham nhũng, bất nhân… nên xin học môn đạo đức để làm người tử tế?

Các cụ ngày xưa nói: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”. Đã làm đến cán bộ lãnh đạo thì tính cách đã ổn định, tính kiên cố vững chắc khó đổi thay lắm. Người bảo thủ thì cứ bảo thủ nặng hơn, kẻ nông cạn, hời hợt thì chín mười tuổi vẫn cạn hợt. Người xấu, người ác mới sơ khai, sai phạm lần đầu thì còn có cơ hội giáo dục, chứ xấu ác thành bản chất rồi, dạy bảo cũng chỉ như nước đổ lá khoai. Quan tham nhũng mà chúng thành cú cáo, thành tinh rồi thì mọi bài giảng đạo đức chỉ như nước đổ đầu vịt. Thậm chí bắt nghe những lời giáo huấn làm người tử tế, họ còn rung đùi cười khẩy, nhìn thầy giảng bài bằng con mắt cười cợt, thương hại.

Nhà cách mạng Karl Marx nói rằng: “Vũ khí phê phán cố nhiên không thể thay thế sự phê phán bằng vũ khí”, với những loại quan tham dùng vũ khí bằng phê phán chẳng bao giờ suy chuyển, huống hồ là…dạy. Chỉ có pháp trị thay cho đức trị mới dọn dẹp được sạch sẽ đám hại dân hại nước này. Chắc chắn dạy đạo đức không bao giờ chống được tham nhũng và nhóm lợi ích thân hữu. Hãy nhìn vào thực chất đời sống mà coi: Người Việt đi học luật và thi lấy bằng xe máy, không phải ai thấy đèn đỏ cũng đứng lại nhé. Nhưng, nếu cứ giám sát tốt và phạt thật nặng, tịch thu phương tiện chẳng hạn thì chấp hành sẽ nghiêm hơn. Tuyên truyền, vận động đội mũ bảo hiểm đi xe máy đó, mấy ai đội đâu; song áp dụng phạt thì hầu như đều chấp hành. Ông phó giáo sư, cựu viện trưởng có chắc rằng các quan chức cứ theo học các khóa đạo đức là sẽ hết tham nhũng? Không! Chẳng có loại quan tham nào đánh đổi tiền bạc, bất động sản đang ùn ùn kéo đến lấy đạo đức sau một khóa học như đề xuất viển vông của ông đâu!

Có những phát minh sáng chế, sáng tiến cải tiến đem ứng dụng vào thực tế rất tốt, làm thay đổi nhận thức thói quen con người. Song lại có những ý tưởng mù mờ, ngớ ngẩn, nếu cứ đem áp dụng thì nó kéo lùi lịch sử. Dạo này, nhiều quan chức cả đương nhiệm cả về hưu có những đề xuất, phát ngôn, nghe xong có cảm giác như các vị ấy cứ như từ trên trời rơi xuống. Người nặng lời thì gọi là hiện tượng… “ngáo…”.

Chẳng hạn: Một ông Giám đốc Sở Giao thông bảo: “Còn nhúc nhích tức là không kẹt xe”. Ông Chi cục trưởng Cục đê điều nói: “Vỡ đê có kế hoạch”. Thậm chí có ông làm đến chức thượng thư tót vời rồi mà vẫn bị vạ miệng: “Học kém thì không thể đạo đức tốt được”…vv. Đã làm đến cán bộ cấp sở, cấp viện là tuổi đời không trẻ nữa, được học hành nhiều, và kinh qua chính trường nghiệt ngã, đề xuất hay phát ngôn bất cứ vấn đề gì cũng phải cân nhắc, đắn đo, nghĩ ngợi. “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”, xe bốn ngựa không nhanh bằng lời nói. Sa chân còn rút lại được chứ lỡ miệng, lời nói gió bay, làm sao thu lại được.

Gửi phản hồi