Thượng nghị sĩ John McCain

John McCain – ông là ai?

Thượng sĩ nghĩ John McCain đã ra đi vào lúc 16h28 ngày 25/8/2018, tại bang Arizona trong niềm tiếc thương vô hạn của người Mỹ. Tang lễ ông được tổ chức tại Điện Capitol – một vinh dự chỉ dành riêng cho “công dân xuất chúng nhất” đất nước. Ông cũng là Thượng nghĩ sĩ thứ 13 được tổ chức lễ tang ở Điện Capitol này. Nơi ông an nghỉ có hướng nhìn ra sông Severn, phần mộ ông đặt bên cạnh người bạn cũ là Đô đốc Chuck Larson.

John McCain là Thượng nghĩ sĩ nổi tiếng trên chính trường và đời sống Mỹ hiện tại, là người có công số 1 trong số những người Mỹ bắc cây cầu hòa bình hữu nghị nối hai bờ đại dương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau thời thù hận, tương tàn máu đổ. Nhưng, trước khi trở thành người nổi tiếng trên nghị trường và chính trường, McCain là một người có cá tính đặc biệt và là một người lính, người sĩ quan trung thành với mục tiêu lí tưởng.

Ông sinh ngày 29/8/1936, không ở quê hương bản quán, mà tại Căn cứ không quân Coco Solo trong Vùng kênh đào Panama, ở bên ngoài biên giới tổ quốc, do Mỹ kiểm soát. Ông thuộc dòng dõi “danh gia vọng tộc”, bởi cha và ông nội của John McCain đều đạt đến đỉnh cao chói lọi… là Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ. Thuở nhỏ, McCain là cậu bé giàu cá tính, nghịch ngợm, “hung hăng”. Do cuộc đời binh nghiệp của người cha nay đây mai đó liên miên, nên tuổi thơ đi học của McCain có may mắn (hay là bất hạnh) đi qua 20 trường học.

McCain học tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ và tốt nghiệp năm 1958, trở thành phi công lái máy bay cường kích từ Hàng không mẫu hạm USS Forrestal của Hải quân Hoa kỳ. Mùa xuân năm 1967, Hàng không mẫu hạm Forrestal tham dự Chiến dịch Rolling Thunder – Chiến dịch dội bom đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Trong tháng 5 năm này, cha của ông được thăng lên đô đốc bốn sao đảm nhiệm chức vụ Tổng tư lệnh các lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại châu Âu, tổng hành dinh đóng tại Luân Đôn.

Thượng nghị sĩ John McCain trong một chuyến sang thăm Việt Nam

Là người lính, John McCain trung thành với lý tưởng quân đội Mỹ thực hiện 23 chuyến bay oanh kích hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thì cũng 23 lần bay nhấn nút trút bom đạn xuống đầu nhân dân Việt Nam. Ngày 26 tháng 10 năm 1967, John McCain lái chiếc phi cơ A-4E Skyhawk oanh tạc mục tiêu Nhà máy điện Yên Phụ, bị tên lửa bắn trúng trên bầu trời Hà Nội. McCain nhảy dù, bị gãy hai tay và một chân, gần như sắp chết đuối khi rơi xuống hồ Trúc Bạch. Ông bị bắt, cũng đồng nghĩa với việc được cứu sống. John McCain được điều trị ở Quân y viện 108.

Giải ngũ, ông tham gia chính trường và năm 1986, trở thành thượng nghị sĩ, liên tục giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân lực của Thượng viện Mỹ, 2 lần tranh cử tổng thống. Ông là người cứng rắn, trung thành với lý tưởng Mỹ và là nhà hoạt động chính trị nổi tiếng. Ông gay gắt phản đối việc CIA dùng các biện pháp bao hành cực hình để xét hỏi nghi phạm khủng bố. Tổng thống Mỹ George W. Bush đánh giá John McCain là “một người đàn ông luôn đưa ra những lý lẽ thuyết phục và 1 người yêu nước vĩ đại nhất”.

Người bắc cây cầu hữu nghị Việt – Mỹ vĩ đại

Những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, để đi đến lý tưởng xóa bỏ hận thù, hướng tới tương lai không hề dễ. Ông John McCain là Thượng nghĩ sĩ có tầm nhìn chiến lược toàn cầu: đã qua thời chiến tranh lạnh, đến thời hòa bình nhân loại, nhưng ông đã từng 5 năm rưỡi làm khách bất đắc dĩ ở “Khách sạn Hilton” (Trại giam Hỏa lò). Ông là một tù binh “bướng bỉnh” nhất, ám ảnh những ngày bị giam giữ. “Ông tỏ ra bất mãn với thời gian bị giam, có những lời không mấy tốt đẹp với những người giam giữ ông”. Sự thực là, John McCain vẫn còn đang trong cuộc đấu tranh nội tâm giằng xé, tình cảm lưỡng phân giữa bất mãn cá nhân chưa thể gột rửa với lý trí của nhà chính trị có tầm nhìn vượt thời gian muốn đặt dấu ấn và khát vọng bắc cây cầu nối liền hai nước vốn là thù địch đến hòa bình.

Những lúc khó khăn của nước Việt trong môi trường ngoại giao, buồn đã qua mà vẫn cứ phải nhớ: Sau chiến tranh, Mỹ thực hiện cấm vận toàn diện nước ta. Mỹ cấm vận cũng đồng nghĩa với cả thế giới tư bản cấm vận. Chúng ta đơn độc trên bản đồ kinh tế, chính trị, ngoại giao với thế giới phương Tây. Vấn đề “Tù binh và Người Mỹ mất tích trong chiến tranh” – gọi tắt là POW/MIA nhiều khi giẫm chân tại chỗ càng làm cho mâu thuẫn và bất đồng vốn đã căng thẳng lại thêm sâu sắc, chia rẽ. Quốc hội Mỹ dường như không mấy quan tâm đến Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ, nhưng lúc nào cũng nhăm nhăm thông qua “Đạo luật nhân quyền Việt Nam”…

John McCain đã xuất hiện đúng lúc đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam. Như một thông tin cần phải tháo gỡ, ông McCain bật mí rằng: Khi Dự luật nhân quyền Việt Nam sắp đưa và chương trình nghị sự để Quốc hội thông qua, thì Việt Nam đừng để xảy ra chuyện liên quan đến nhân quyền nữa, hoặc nếu xảy ra thì thu xếp cho khéo, đừng tạo chứng cớ cho các nghị sĩ không thiện cảm với Việt Nam, họ sẽ càng ủng hộ dự luật này và quyết liệt thúc đẩy tiến độ thông qua. Thử hỏi: Có mấy người Mỹ một thời là kẻ thù lại chân thành và ân tình như thế?

Ông John McCain gặp lại ông Mai Văn Ổn, một trong những người đã cứu ông từ hồ Trúc Bạch khi ông John McCain phải nhảy dù xuống đây

John McCain tìm đến và liên kết với Thượng nghị sĩ John Kerry (sau này trở thành Ngoại trưởng trong chính quyền Tổng thống Barack Obama) để vận động chính quyền của Tổng thống Bill Clinton sớm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Ông Kerry vốn là cử nhân khoa học chính trị học tại Đại học Yale, đã từng tham chiến ở Việt Nam. Trong Hồi ký, McCain viết: “Chúng tôi đều có tình yêu đối với Hải quân, nhưng có quan điểm khác nhau về cuộc chiến. Chúng tôi không tin tưởng nhau, không thực sự biết về nhau. Nhưng sau một cuộc trò chuyện trên một chuyến bay dài, chúng tôi quyết định phối hợp với nhau để hòa giải với Việt Nam với chính chúng ta ở Mỹ”.

Cuối cùng, Tổng thống Clinton chính thức công bố quyết định bình thường hóa quan hệ với Việt Nam vào năm 1995. Có thể, theo xu thế thời đại, Việt – Mỹ trước sau cũng từ thù thành bạn, nhưng nếu không có John McCain và John Kerry thì cây cầu bình thường hóa quan hệ, hữu nghị hợp tác sẽ chậm trễ biết bao!

Hành trang là “Chuông nguyện hồn ai” và lòng vị tha của người Việt.

Robert Jordan là nhân vật chính trong “Chuông nguyện hồn ai” của Ernest Hemingway. Jordan là một chàng trai Mỹ, tham chiến trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha. Jordan trung thành và kiên định với lý tưởng của mình, cực kì căm thù phát xít, bất chấp mọi đố kị nghi ngờ. Trong những ngày lái máy bay cường kích oanh tạc miền bắc Việt Nam, McCain yêu thích và luôn mang theo bên mình “Chuông nguyện hồn ai”. Ông mong hành động như nhân vật lý tưởng Robert Jordan, ông nói: Jordan là nguồn cảm hứng chính của đời ông.

Nhưng, còn điều chi nữa trong hành trang của John McCain? Có lẽ những ngày nằm viện và cái sự đau đớn hành hạ, McCain nhớ vợ thương con, và khao khát hòa bình, được sống trong đời sống thường nhật. Ông nói rằng: “Tôi có một vợ và ba con. Tôi là một người đang thấy cần phải có hòa bình và mong chiến tranh kết thúc. Tôi còn là một người không muốn làm những gì có thể hại đến thanh danh gia đình tôi”.

Sau Hiệp định Paris được ký kết, ông và 107 người Mỹ khác được thả vào ngày 14 tháng 3 năm 1973. Ông biết lòng vị tha của người Việt, nhưng danh dự và nghĩa vụ người lính đã níu ông, làm ông chậm ngày trở về gặp lại vợ con. Ông cũng nhận ra, thực hiện nghĩa vụ người lính mà phải đánh phá những mục tiêu chẳng có giá trị gì về quân sự. Sau này, ông viết về những năm tháng trai trẻ đầy máu và nước mắt quãng binh nghiệp ở Việt Nam có chút gì đó cay đắng và buồn chán: “Đa số các phi công của chúng tôi thi hành các phi vụ đều tin rằng các mục tiêu của chúng tôi gần như là không có giá trị gì”.

Trở lại Việt Nam nhiều lần, lần nào cũng mang nỗi mặc cảm tội lỗi và lần nào cũng mang đầy nhiệt huyết với tâm thế hàn gắn vết thương sau chiến tranh, xóa bỏ hận thù. John McCain được người Việt đón tiếp nồng nhiệt, thân mật. Đứng trước Hồ Trúc Bạch mênh mang, một chút se se lạnh trong lòng và nỗi buồn nhẹ, nhưng ông lại hi vọng về những điều tốt đẹp sẽ đến, bởi không còn hình ảnh: “Một người nhảy xuống dúi mũi khẩu súng trường vào vai phải, một người khác lục tìm thấy dao găm dọc theo hai bên đùi” nữa. John McCain đã tìm gặp lại người bơi ra hồ Trúc Bạch cứu vớt ông năm xưa. Ông toại nguyện và được gặp ông Mai Văn Ổn. Họ ôm chầm lấy nhau. Chẳng còn hận thù, chỉ thấy tình cảm ấm áp, lòng vị tha nhân hậu. Và, ông mang giá trị nhân văn của người Việt về quê hương, mang theo làm một phần hành trang của mình.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here