Thói háo danh

Nước Việt Nam trải qua ngàn năm phong kiến, đã kịp hình thành tầng tầng lớp lớp người khoa bảng đời này sang đời khác. Học rồi thi, thi để làm quan. Quan được chọn từ các ông nghè, ông cử. Đỗ càng cao thì càng được trọng dụng, làm quan to. Lại còn được vinh quy bái tổ.

“Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”, vừa là ý chí vừa là lời thở than, dường như nhà thơ Nguyễn Công Trứ nói hộ lòng bao nhiêu người khát vọng lập chí lập danh. Làm người đàn ông phải có danh, lợi với danh đi cùng với nhau; khi đã có danh là có lợi. Danh cũng đi cùng với giá. Có danh là có giá, có giá là có lợi. Vậy là, người ta phải… mua danh. Chả thế mà dân gian có câu “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, hoặc “sinh đồ ba quan”.

Chuyện kể rằng: Vào thời cuối nhà Lê. Sĩ tử đi thi Hương, phải qua hội đồng tư văn làng xã, hoặc chính quyền xã đó kiểm tra có chữ không mới được lều chõng đi thi. Vào đúng thời mạt, các ông quan làng xã đưa ra lệ làng: Muốn đi thi, muốn được công nhận là sinh đồ thì cứ thò ra ba quan, chẳng cần sát hạch. Có anh đồ tể một chữ bẻ đôi không biết, tiền mổ lợn nhiều cũng là anh dân đen bèn thò ra ba quan, thế cũng được gọi là sinh đồ. Dân gian mỉa mai cái loại người chữ nghĩa bằng không lại háo danh, mua danh là… “sinh đồ ba quan”.

Bây giờ, lại chuyện háo danh giáo sư, phó giáo sư. Đành rằng mong muốn trở thành giáo sư, phó giáo sư cũng là một nhu cầu chính đáng, khát vọng để trở thành hiện thực cũng là điều rất đáng trân trọng. Nhưng, từ quan niệm sai lầm về khái niệm giáo sư dẫn đến lạm dụng danh từ này trong đời sống xã hội. Ở nước ngoài, các trường đại học bổ nhiệm giáo sư; ở nước ta thì nhà nước phong giáo sư, phó giáo sư. Nhà nước thì oai hơn, to hơn cấp trường đại học rồi.

Quan niệm ấy đang phổ biến, đang tràn ngập đời sống xã hội. Ở làng, người ta hay kể tên ông tướng, hay ông thứ trưởng của dòng họ này, bà giáo sư hoặc anh tiến sĩ của dòng họ kia, và lấy đó như một tấm gương học tập noi theo, như một khao khát chiếm lĩnh đích đến, dù chẳng biết họ có “hữu danh vô thực” hay không. “Chúng ta nên trả lại từ giáo sư về đúng nghĩa của nó, tức là một vị trí làm việc”.

Rà soát lại hồ sơ 94 người đã loại 41 vị ứng viên giáo sư, phó giáo sư

Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu nói như thế. Giáo sư chỉ đơn thuần là… một vị trí làm việc. Làm việc cụ thể là… nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Nhưng, 1000 năm phong kiến, cộng với quan niệm sai lầm và cái sự tôn vinh thái quá khiến cho một bộ phận cư dân cuồng lên với học vị tiến sĩ, với học hàm giáo sư, phó giáo sư.

Quan chức làm giáo sư để làm gì?

Các cụ ngày xưa nói: “Con phượng thì múa, con nghê thì quỳ”. Mỗi người một danh phận, một công việc. Sinh ra quan chức để làm lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Sinh ra giáo sư, phó giáo sư để… giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Con phượng vừa múa vừa quỳ được không, và ngược lại con nghê vừa quỳ vừa múa được không? Không! Hoặc nếu có thì cũng nghiệp dư chứ không thể chuyên nghiệp.

Thực ra, cũng có người đảm được hai hoặc nhiều công việc, nhưng rất hiếm hoi. Phải là người đặc biệt xuất chúng, không phổ biến và không đông đảo như giàn quan chức mang danh giáo sư, phó giáo sư ở Việt Nam.

Giáo sư, phó giáo sư không chỉ giảng dạy mà còn nghiên cứu khoa học. Ở nước ta có chuyện, một ông quan chức họp hành tối ngày, nhưng làm chủ đề tài này sang đề tài khác. Cái thói “dây máu ăn phần” này quả là hiệu nghiệm. Khi làm hồ sơ phong giáo sư, phó giáo sư thì được cộng điểm, lại còn được ký phiếu chi, tiền rủng roảng. Chỉ có điều, hầu hết các công trình ấy bị bỏ vào ngăn kéo.

Cuộc sống thực tế không cần thứ công trình trên mây gió ấy. Thử hỏi các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ được bao nhiêu vị có công trình nghiên cứu khoa học được ứng dụng thực tế? Các ông quan chức khoác áo giáo sư có cái gì để người nông dân ứng dụng, có cái gì để người công nhân đỡ lam lũ, bớt mồ hôi.

Quan chức mang danh giáo sư để làm gì? Chỉ có thể cho oai, cho sướng cái bụng và thỏa mãn cái đầu. Chỉ có thể làm cho mình sung sướng khi đang sống trong bầu khí quyển trọng danh, háo danh hơn trọng thực tài. Công việc giảng dạy không phải là nhàn nhã, muốn rẽ vào chơi như hái hoa bắt bướm nhởn nhơ. Cái nghề nghiệp giáo dục là truyền cảm xúc, gây hứng thú thì kiến thức mới vào đầu học trò.

Ở nước ngoài, các trường đại học bổ nhiệm giáo sư; ở nước ta thì nhà nước phong giáo sư, phó giáo sư

Nghề với yêu nghề bao giờ cũng song hành. Không yêu nghề thì nghề bỏ. Làm quan chức suốt ngày đi họp và bận bịu với công việc quản lý con người, quản lý nghiệp vụ chuyên môn. Ấy là chưa nói đến chuyện lợi ích nhóm, đấu đá phe cánh, chuyện lấy lòng cấp dưới, xu nịnh cấp trên. Mệt nhoài! Thời gian đâu mà đứng lớp giảng bài? Thời gian đâu mà viết giáo án, với soạn bài?

Theo tôi, đã làm quan chức lãnh đạo, chỉ huy, quản lý thì thôi giáo sư. Đã là giáo sư thì thôi quan chức.

Không chỉ 41 ứng viên…

Thanh tra Bộ Giáo dục & Đào tạo chỉ rà soát hồ sơ 94 người thôi mà đã có 41 vị ứng viên giáo sư, phó giáo sư bị loại khỏi vòng danh vọng. Vậy, nếu rà soát lại hàng ngàn giáo sư, phó giáo sư đã phong thì con số hồ sơ không bảo đảm theo quy định, đâu chỉ dừng ở 41?

Vì sao lại có chuyện nhập nhằng đánh lận con đen như thế? Vì sao người thầy đứng bục giảng kiến thức và là tấm gương cho những điều lễ nghĩa mà lại gian lận như vậy? Thói háo danh đã đành, nhưng còn tham lợi nữa. Háo danh, tham lợi đã làm cho các thầy không còn đủ tư cách làm thầy. Tiêu chuẩn chẳng đủ, nhưng vẫn làm thủ tục, vẫn làm đẹp hồ sơ để xin phong giáo sư, phó giáo sư thì có đủ tư cách làm thầy? Họ sẽ nói gì với sinh viên khi đứng lớp?

Nhưng, lọt lưới vào vòng danh vọng đeo vòng nguyệt quế giáo sư là còn có sự tiếp tay của các cơ sở đào tạo. “Từ việc rà soát này, thấy có lỗi của một số cơ sở giáo dục trong xác nhận giờ giảng cho ứng viên. Một số nơi xuê xoa trong việc ký xác nhận giờ giảng dù ứng viên không có đủ các minh chứng cần thiết”.

Dĩ hòa vi quý, hoặc đơn giản, đại khái qua loa. Vì nể nang nên công nhận số giờ chuẩn, giờ đủ cho các ứng viên. Dạy được vài chục tiết nhếnh nháng, nhưng kê khai thỉnh giảng vống lên cho đủ tiêu chuẩn. Vô tình các cơ sở đào tạo tiếp tay cho cái xấu, dung dưỡng cái xấu phát triển. Hay, cái phong bì đè bẹp quy chế và đạo lý?

Số lượng GS, PGS ngày càng tăng nhanh

Cái nền hành chính công nước ta vốn đã rối rắm, lỏng lẻo, quản lý được chăng hay chớ, nên mới sinh ra cái sự: “hồ sơ thiếu hợp đồng giảng dạy, thanh lý hợp đồng, thậm chí thiếu cả hai giấy tờ”. Đây là điều dễ nhận biết nhất, nhìn qua là rõ. Hội đồng chức danh từ cơ sở đến nhà nước không thể vô can trong chuyện này. Bộ phận hành chính giúp việc cho Hội đồng chức danh cũng không thể đứng ngoài cuộc.

“Có trường hợp các giấy tờ, hợp đồng, thanh lý hợp đồng giảng dạy trên văn bản được ký từ năm 2012-2013 nhưng nét mực vẫn còn mới tinh và số điện thoại trên hợp đồng lại hiển thị mã vùng vừa thay đổi từ… năm 2017. Có trường hợp khai dạy môn học 60-70 tiết, nhưng kiểm tra tại cơ sở đào tạo thì môn học đó chỉ vỏn vẹn 2 học trình, nên dù có dạy thật cũng chỉ là 30 tiết.

Không ít trường hợp thiếu các minh chứng về hợp đồng giảng dạy, thanh lý hợp đồng, nhận xét của cơ sở đào tạo ký hợp đồng…”. Những điều này, mắt thường cũng nhìn thấy, chứ chưa cần đến trình độ sơ cấp hành chính. Vậy mà, vẫn bỏ lọt nhiều hồ sơ vào vòng cuối cùng.

Chưa đụng đến năng lực chuyên môn, chỉ mới rà soát lại hồ sơ 94 người đã loại 41 vị ứng viên giáo sư, phó giáo sư. Nếu làm cuộc tổng rà soát toàn bộ, thì nước Nam ta còn bao nhiêu người thực sự là giáo sư, phó giáo sư?

Nhà văn Sương Nguyệt Minh

Gửi phản hồi