Người đàn bà ấy tên là Doan. Chị góa chồng khi mới 20 tuổi. Lúc đó, đứa con đầu lòng của chị tròn ba tuổi. Chồng chị bị sét đánh chết vào một buổi chiều muộn khi đang cày ngoài ruộng. Lạ là, buổi chiều ấy trên bầu trời không hề có bất cứ dấu hiệu gì của một cơn giông. Trời quang quẻ, chỉ có một vài đám mây bay qua cánh đồng.

Suốt một năm sau khi chồng đột ngột qua đời, chị như người mắc bệnh tâm thần. Chị thường lang thang trên cánh đồng như một kẻ mộng du. Chiều nào, gia đình chồng phải tìm chị và dắt về nhà. Vào ngày giỗ đầu của người chồng quá cố, chị Doan quỳ trước mộ và khóc lóc thảm thiết. Chị nói với linh hồn người chồng đã chết rằng chị sẽ không đi bước nữa mà ở lại chăm sóc cha mẹ chồng và đứa con mồ côi bố.

Ngay đêm trong ngày giỗ đầu ấy, chị thấy linh hồn người chồng trở về. Anh đứng trước cửa buồng của vợ chồng chị, tươi cười nhìn vợ và đứa con đang ngủ say sưa. Chị quỳ xuống vái anh và khóc. Anh dỗ dành chị đừng đau buồn nữa vì anh sẽ trở về và sống cùng mẹ con chị sau ngày đoạn tang.

Ngay đêm trong ngày giỗ đầu ấy, chị thấy linh hồn người chồng trở về. Anh đứng trước cửa buồng của vợ chồng chị, tươi cười nhìn vợ và đứa con đang ngủ say sưa.

Càng nghe linh hồn người chồng nói, chị càng khóc to và vái lạy liên tục. Trước khi biến mất anh dặn chị sau ngày đoạn tang anh, sẽ có người đến hỏi cưới chị thì chị hãy đồng ý vì đó chính là anh. Anh lại dặn chị hãy xem ở giữa lưng người chồng mới sẽ có một vết bớt đỏ tròn bằng cái trôn bát. Nói xong anh biến mất. Chị Doan ôm con và khóc. Chị nghĩ do thương nhớ chồng quá nhiều nên mới tưởng tượng anh trở về như vậy.

Trong lần giỗ thứ hai, chồng của chị Doan lại hiện về, đứng ở cửa buồng và dặn chị cố gắng chịu đựng thêm một năm nữa rồi anh sẽ trở về. Chị Doan chỉ biết khóc và lạy chồng. Điều đặc biệt, chị Doan cảm thấy hơi thở của người chồng quá cố đang phả ấm quanh chị. Nỗi buồn đau xen lẫn hạnh phúc xâm lấn. Chị mang câu chuyện đó kể cho mẹ chồng nghe. Bà chỉ biết buốt ruột xót thương nàng dâu sớm trở thành góa bụa.

Thời gian cứ thế trôi đi, rồi lần giỗ thứ ba và cũng là ngày giỗ đoạn tang chồng đã đến. Chị Doan sắp mấy mâm cơm cúng và mời những người gần gũi trong họ hàng nhà chồng đến thắp nén hương cho chồng mình. Buổi chiều hôm đó, bố mẹ chồng gọi chị lên nhà trên. Bố chồng chị thắp hương vái lạy, thì thầm rất lâu bên di ảnh chồng chị.

Sau đó, ông quay sang bảo chị rằng đã đoạn tang chồng, từ đây trở về sau, chị có thể đi thêm bước nữa bởi chị còn rất trẻ, còn đứa con có thể để lại cho ông bà nuôi dạy. Chị hiểu tấm lòng của bố mẹ chồng nhưng chị nhất mực quỳ lạy, xin bố mẹ chồng cho chị ở lại chăm sóc ông bà và nuôi dạy con trai. Dù bố mẹ chồng nói rất nhiều, nhưng chị vẫn cúi đầu xin được ở lại.

Một ngày có một thanh niên ở xa đến làng chị, làm nghề đào giếng thuê, tìm xem có ai thuê đào giếng thì nhận làm. Theo lời anh kể, anh người miền núi, quanh năm đi khắp nơi này tới nơi khác đào giếng thuê, cuối năm mới về lại quê. Cũng có khi anh đi miết vài năm mới về nhà, bởi cha mẹ đã qua đời từ khi anh còn nhỏ, hai cô em gái cũng đã có gia đình và cuộc sống riêng. Anh được bố mẹ chồng chị thuê đào giếng.

Ban ngày anh đào giếng còn ban đêm anh trải chiếu ra hiên nhà nằm ngủ. Một lần, anh cởi áo để đào giếng thì chị giật mình khi nhìn thấy giữ lưng anh có một vết chàm tròn bằng cái trôn bát giống y vết chàm trên lưng của người chồng quá cố. Chị càng kinh ngạc và đầy sợ hãi khi nhớ đến ba lần giỗ chồng thì người chồng quá cố đều hiện về nói với chị sau ngày đoạn tang chồng chị sẽ trở về sống với chị và dặn chị nhớ vết chàm ở giữa lưng mà nhận ra anh. Suốt những đêm ấy chị không sao ngủ được.

Chỉ ở nhà chị được mấy ngày để đào giếng mà đứa con trai chị quấn lấy người đào giếng như thân thiết từ lâu rồi. Đặc biệt, bố mẹ chồng chị coi người đào giếng như con trai mình. Lạ lùng, chị còn phát hiện người thanh niên đào giếng có rất nhiều đặc điểm giống người chồng quá cố, từ cách ăn, cách nói cho tới hành động ân cần chăm sóc cho con trai chị. Đêm đêm, chị vẫn lặng lẽ thắp hương và khấn lạy hương hồn chồng chị hãy phù hộ cho chị, hãy giúp chị đừng lỡ chân lạc lối.

Một đêm, người chồng quá cố của chị lại hiện về đứng trước cửa buồng ngủ của chị. Chị thấy anh cười rất vui. Vừa xuất hiện, người chồng quá cố của chị đã nói “Anh về rồi, anh về với em và con rồi”. Chị quỳ xuống khóc van anh hãy bảo vệ chị. Anh cười và bảo lúc nào anh cũng ở bên chị. Rồi anh bảo chị rằng, khi đào giếng anh nhặt được một con trâu bằng đồng đúc rất đẹp và anh sẽ tặng cho đứa con của mình.

Chiều hôm sau, từ dưới lòng giếng đào đã khá sâu, người thanh niên đào giếng leo lên miệng giếng và rối rít gọi con chị. Chị bàng hoàng nhận ra trên tay anh là một con trâu bằng đồng đúc còn dính nhiều đất. Người thanh niên đào giếng cọ rửa con trâu đồng sạch sẽ và tặng món quà đó cho con chị. Chứng kiến cảnh đó, chị chạy vội vào buồng và đổ sụp xuống giường. Mọi sự việc như chồng quá cố hoàn toàn trùng khớp với những gì xảy ra. Chị vừa hạnh phúc vừa tột cùng lo sợ, hoang mang.

Càng đến ngày chiếc giếng được hoàn thành thì người chồng quá cố của chị hiện về nhiều hơn. Những lần đó anh chỉ nói về chiếc giếng đang đào. Dần dà, tình cảm của chị đối với người thanh niên đào giếng càng ngày càng sâu đậm hơn nhưng chị tuyệt đối giấu kín.

Chiếc giếng được hoàn thành, chị nghĩ người thanh niên đào giếng sẽ ra đi, đồng nghĩa chị sẽ không phải khổ đau, sợ hãi và dằn vặt nữa. Nhưng một số người trong làng đến xem thấy giếng đẹp, nước trong vắt thì thuê anh đào giếng cho họ. Anh nhận lời và tiếp tục đào giếng cho những gia đình khác.

Tối nào anh cũng đến thăm bố mẹ chồng chị và chơi đùa với con trai chị. Hễ anh đến muộn, y rằng bố mẹ chồng chị lại nhắc. Chị nhận ra rằng, chị cũng nhớ người thanh niên đào giếng ấy. Mỗi khi cảm xúc len lén ấy xuất hiện, chị lại thắp hương, vái lạy hương hồn người chồng quá cố tha lỗi cho chị. Và cứ mỗi lần như thế, nửa đêm người chồng quá cố của chị lại hiện về và nói răng anh đã về sống với mẹ con chị và đang làm nghề đào giếng thuê.

Một hôm, bố mẹ chồng chị tự nhiên sắp một mâm cơm đặt lên ban thờ thắp hương cúng khấn. Sau đó bố mẹ chồng gọi chị đến và nói rằng họ muốn gả chị cho người thanh niên đào giếng thuê. Mặt mày chị xây xẩm, chỉ biết khóc mà không nói được lời nào. Buổi tối ấy, bố mẹ chồng chị đã nói chuyện với người đào giếng ý muốn gả người con dâu góa cho anh. Người đào giếng đã vái lạy họ và nói đó chính là mong ước của anh.

Mấy tháng sau, bố mẹ chồng chị sắp dăm mâm cơm mời họ hàng đến để xin phép cho người thanh niên đào giếng thuê và con dâu họ thành vợ thành chồng. Sự tác hợp này được gia đình nhà chồng vui vẻ đồng ý. Trước ngày hai người thành vợ chồng chính thức, chị đã ra mộ người chồng quá cố thắp hương và cầu khấn suốt chiều. Đêm đó, người chồng hiện về và nói với chị “Anh ở với mẹ con em cho đến khi nào con chúng mình lấy vợ thì anh sẽ đi”.

Người thanh niên đào giếng thuê và chị Doan ở với nhau hơn mười năm, sinh được hai người con gái. Và đúng như lời người chồng quá cố của chị từng nói, sau khi con trai chị cưới vợ được 7 ngày thì người chồng thứ hai của chị Doan đi đào giếng thuê ở một làng bên kia sông và bị cảm. Khi gia đình đưa anh về đến nhà thì anh đã cấm khẩu không nói được lời nào. Anh chỉ nhìn chị và nhìn đứa con trai của vợ rồi trút hơi thở cuối cùng.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

Gửi phản hồi