Chị lấy chồng khi mới chớm vào tuổi 18. Khi chồng chị đến tỏ lòng muốn cưới chị thì chị đã từ chối. Anh xin cưới chị để đi vào mặt trận. Vì thế, anh muốn cưới chị để mẹ anh có người sớm hôm bên cạnh. Khi nghe lời từ chối của chị, anh đã đứng lặng rất lâu rồi chào chị và ra về. Cả đêm đó chị thức trắng.

Sáng hôm sau, chị vội vã đến tìm anh và nói: “Anh hãy cưới em đi”. Thế là đám cưới của họ được tổ chức trong đình làng. Tôi đã tham dự đám cưới đó.

Sau lễ cưới, chồng chị ở lại với chị được năm ngày rồi lên đường đi vào mặt trận. Năm năm sau, chị nhận được giấy báo tử anh. Chị như hóa điên. Sau nhiều tháng ốm nặng, chị gượng dậy và tiếp tục sống. Mẹ chồng chị đêm đêm khóc giục chị đi bước nữa vì chị còn quá trẻ. Nhưng chị đã ở lại chăm sóc mẹ chồng cho đến khi cụ ra đi trong đau đớn và thương nhớ đứa con trai của mình.

Chị ở lại trong ngôi nhà của mẹ chồng ở xóm bãi hương khói cho mẹ chồng và người chồng đã hy sinh. Ban ngày, chị đi làm đồng, ban đêm chị thường ngồi yên lặng trước hiên nhà trong bóng tối cho đến khuya. Có những đêm, chị lang thang dọc triền sông như một người mộng du. Khi gặp người làng, ai hỏi chị thì chị gần như không trả lời mà chỉ mở to đôi mắt như mất hết hồn nhìn họ. Người làng nghĩ chị bị tâm thần vì quá đau đớn.

Rồi đến một ngày, những người đi thả lưới đêm, những người đi đặt bẫy chuột trên những gò sông và trên những con đường mòn của lũ chuột đồng xuyên qua những lùm dứa dại đã phát hiện ra một bóng đen lừ lừ đi vào ngôi nhà không một ánh đèn của chị.

Lâu sau, bóng đen đó lại lừ lừ đi ra bờ sông nhảy xuống sông và biến mất. Cứ dăm ba ngày, bóng đen lại xuất hiện và đi từ bờ sông vào thẳng ngôi nhà của chị. Người trong làng bắt đầu xì xào về bóng đen bí ẩn ấy và mối quan hệ kỳ bí của chị với bóng đen kia. Có người cho đó là ma và có người cho đó là một gã đàn ông nào đó.

Cho đến một ngày, chị vừa kể cho người bạn gái thân thiết câu chuyện về bóng ma và vừa khóc. Chị nói rằng đó là hồn ma chồng chị đã chết tìm về. Người bạn gái không tin chị, khuyên nhủ chị nhiều điều và nói với chị nếu có quan hệ với một người đàn ông nào đó thì sẽ chẳng ai trách chị vì chị góa chồng đã nhiều năm và tuổi thì còn trẻ. Nhưng chị khẳng định, hồn ma ấy là chồng mình.

Thi thoảng vào những đêm khuya, hồn ma ấy bước vào ngôi nhà đầy bóng tối và thì thầm gọi: “Tâm ơi, anh về với em đây, chồng em đây, Lực đây em ơi”. Lúc đầu chị hoảng hốt co rúm người lại. Nhưng tiếng gọi thì thầm của bóng người đó cứ đều đều vang lên.

Cho đến một ngày, chị tin đó là hồn ma chồng mình hiện về. Chị vừa khóc vừa vái hồn ma ấy. Sau khi nghe chị vừa khóc vừa kể những chuyện ấy, người bạn gái của chị bắt đầu thấy có một điều gì đó khác thường và tin là hồn ma chồng chị về thật.

Câu chuyện từ người bạn gái của chị dần dần lan ra hết cả làng. Vào những buổi tối, cứ hễ thấy những người lớn túm tụm với nhau bàn tán về hồn ma người lính trở về với người vợ trẻ đêm đêm là lũ trẻ chúng tôi lại lén đến nghe trộm.

Có lúc, những đứa trẻ liều lĩnh nhất rủ nhau ra bãi sông đứng từ xa nhìn vào ngôi nhà của chị đầy tò mò và sợ hãi. Nhưng chúng tôi chỉ dám mò ra bãi sông xem ngôi nhà của chị vào ban ngày, chứ ban đêm thì có cho kẹo cũng chẳng đứa nào dám ra.

Mỗi lần thấy chị vào làng là lũ trẻ lại len lén đi theo nhìn chị. Người làng gặp chị đều nhìn chị khác thường và chào hỏi cũng khác thường. Chị cứ lặng lẽ đi như một hồn ma trên đường làng.

Rồi đến một ngày, người ta phát hiện chị mang thai. Thế là câu chuyện lại bùng lên khắp làng với nhiều ý kiến bàn cãi khác nhau. Người cho rằng chị có quan hệ với một gã đàn ông nào đó rồi sợ dân làng nên bịa ra chuyện hồn ma chồng chị về. Người thì nói đã từng nghe ngày trước có người đã chửa với ma thật.

Một số người trong làng bàn với nhau sẽ rình quanh nhà chị để khi cái bóng đen kia xuất hiện thì bật đèn pin xem đó là người hay là ma. Nghe vậy, cụ Hàn Thịnh, một người thợ may làng tôi đã nói với nhóm người đó cho dù đó là hồn ma người lính hay là một người đàn ông nào đó có quan hệ với chị thì cũng không được phép làm thế.

Cụ Hàn Thịnh nói chị phải được an ủi và yêu thương vì đã gián tiếp hy sinh cho cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc. Hơn nữa, chị chính là một người con gái phải chịu nhiều đau khổ. Nếu chồng chị không là một người lính và anh có một người mẹ già thì chị đã không nhận lời lấy anh. Chỉ như thế thì chị cũng đã là người phụ nữ đáng được tôn trọng.

Cụ Hàn Thịnh từng được Vua Bảo Đại phong Hàn lâm viện sỹ vì có công may lễ phục cho Vua và Hoàng tộc và đã được huy chương vàng Hội chợ Đông Dương vì sản phẩm may mặc của mình. Nghe cụ Hàn Thịnh khuyên vậy, những người đó đã bỏ ý định tìm hiểu xem cái bóng đen kia là ai và như chia sẻ, cảm thông với chị hơn.

Khi chị sinh con, những người nhìn thấy mặt đứa bé đều kinh ngạc thấy đứa bé giống người lính đã hy sinh như hai giọt nước. Càng lớn lên, đứa bé càng giống người chồng đã hy sinh của chị đến ai cũng có thể nhận ra. Đến lúc này, nhiều người trong làng còn nghi ngờ chị lâu nay giờ đã tin linh hồn người lính vẫn trở về và làm cho chị mang thai.

Những người trong gia đình và họ hàng người lính yêu thương đứa trẻ vô cùng. Trong một lần vào nhà cụ Hàn Thịnh để may áo, mẹ tôi nói chuyện với cụ Hàn Thịnh về chuyện đứa con của chị. Mẹ tôi nói với cụ Hàn Thịnh về sự thương cảm của mẹ tôi với chị. Cuối cùng mẹ tôi nói với cụ Hàn Thịnh: “Cho dù thế nào thì cô ấy cũng đáng được ban cho một đứa con cụ ạ”.

Nghe vậy, Cụ Hàn Thịnh nhìn mẹ tôi rồi nói: “Thế là cô giáo đã hiểu hết rồi. Người chết rồi không sống lại được cô giáo ạ. Người chết rồi vẫn còn linh hồn nhưng không thể có con với người sống được. Cố ấy không nói dối ai cả. Nhưng rồi cô ấy cũng sẽ nhận ra sự thật của câu chuyện mà chính cô ấy vẫn tin”.

Khi đứa con càng ngày càng lớn thì chị như dần dần từ một thế giới “mộng du” trước kia trở về với cuộc sống của mình. Đôi mắt chị không còn là đám mây vô hồn nữa nhưng thay vào đó là một nỗi dày vò, khắc khoải. Chị trầm ngâm hơn. Đến một ngày, chị gọi người bạn gái đến và nói với người bạn gái ấy một sự thật.

Đứa con của chị không phải là của người chồng đã hy sinh mà của một người khác. Nhưng chị không lừa dối bất cứ ai. Trong những ngày sống trong đau đớn khôn cùng, chị đã trầm cảm, đã sống thực sự trong một thế giới tinh thần khác mà chính chị không nhận ra. Người đàn ông thi thoảng vẫn tìm đến chị trong đêm khuya là một người sống ở xóm trại bên kia sông. Người đó biết hoàn cảnh của chị. Anh ta tìm đến chị trong một đêm khuya.

Khi thấy anh, chị đã mở to đôi mắt trong bóng tối rất lâu và run rẩy hỏi “Có phải anh về đấy không, anh Lực ơi, em khổ quá”. Lúc đầu, người đàn ông choáng váng khi nghe chị hỏi thế. Nhưng rồi anh ta hiểu ra. Quả thực chị đã tin đó là linh hồn người chồng trở về với chị. Người đàn ông kia vừa là người an ủi nỗi đau đớn của chị vừa là người đã lợi dụng con người chị lúc đó. Sau này, người làng tôi và các làng bên cạnh biết chuyện đó vẫn bàn tán không dứt về câu chuyện này. Người thì nói anh ta là kẻ đểu cáng đã lợi dụng lúc chị đau đớn mà chiếm đoạt thân xác chị, người thì nói anh ta đã an ủi chị, người thì cho rằng cho dù chị tưởng đó là linh hồn chồng mình hay chỉ là lý do thì chị cũng là người đáng được chia sẻ và cảm thông.

Chỉ khi chị thương nhớ người chồng đến như thế nào chị mới có thể ảnh hưởng đến sự hình thành những đường nét trên gương mặt của đứa bé đến như thế. Khi trưởng thành, mọi người biết người lính đã hy sinh đều phải thốt lên rằng: khi nhìn thấy chàng trai đó họ đều tưởng đó là bố của chàng trai trước khi nhập ngũ.

Câu chuyện về chị xảy ra đã lâu nhưng cho tới tận bây giờ và mãi về sau nếu được kể lại vẫn là câu chuyện làm cho những người sống phải suy nghĩ rất nhiều về cuộc sống này. Câu chuyện đặt ra nhiều câu hỏi về tình yêu, sự mất mát, niềm vui, sự kỳ lạ, sự chia sẻ, sự cảm thông và những bí ẩn của đời sống vô tận này.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here