Ai là người giàu nhất Nam Kỷ? Nhiều người cho rằng đó là Hội đồng Trần Trinh Trạch – cha của Hắc Công Tử, với trên 100.000 héc-ta ruộng và trên 20.000 héc-ta ruộng muối cùng nhiều bất động sản khác.

Hoặc người ta nhắc đến chú Hỏa, chú Hỉ với câu: “Ở nhà chú Hỏa, đi tàu chú Hỉ”. Xưa hơn thì có câu Nhất Sĩ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định… Nhưng theo Đào Văn Hội, 1 công chức cao cấp thời Pháp, đồng thời là tác giả nhiều sách địa chí lịch sử đã ghi nhận trong sách Tân An ngày xưa thì 4 người giàu nhất Nam Kỳ cuối thế kỷ 19 là Nhất Sĩ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định góp lại tài sản cũng chỉ bằng một phần ngàn ông Hóng. Ông Hóng là ai? Vì sao giàu có tột bậc như vậy mà ít người biết đến?

Điềm báo từ 4 ngọn đèn trời!

Tờ Nam Kỳ tuần báo ngày 16/10/1943 có bài 25 ngày theo dấu người xưa của nhà báo Khuôn Việt, ghi nhận ông Hóng tên thật là Phan Văn Nghêu – người gốc miền Trung, vào Nam khẩn hoang rồi trở nên giàu có thành cự phú trong vùng. Tên ông Hóng được người đương thời đặt cho là chỉ tiền bạc của ông nhiều như khói bồ hóng trong giàn bếp mọi nhà.

Đầu kênh ông Hóng phía sông Vàm Cỏ Tây

Tác giả Đào Văn Hội, ghi chép chi tiết hơn: Ông Phan Văn Nghêu vốn là 1 người canh điền làm thuê cho 1 điền chủ trong vùng. Tính tính chất phác, làm lụng siêng năng để dành được chút ít tiền nên ông Nghêu được chủ điền cho 1 miếng đất nhỏ để cất nhà và cho thuê ruộng làm tá điền trên địa phận xã Bình Lãng ngày nay. Ông Nghêu dọn miếng đất chủ cho, dựng 4 cây cột chuẩn bị cất nhà.

Đêm ấy, chủ điền thức dậy thấy khu đất của ông Nghêu sáng rực. Chạy tới nơi, ông phát hiện 4 ngọn nến đó chính là 4 cột nhà. Ông chủ điền hiểu ra về nhà nói với vợ, đây là điềm trời báo hiệu ông Nghêu sẽ giàu tột bậc. Thật vậy, từ đó năm nào ông Nghêu cũng trúng mùa và điền đất của vị điền chủ và nhiều điền đất khác trong vùng lần lượt về tay Nghêu – tức ông Hóng…

Khi Nguyễn Ánh bôn đào đóng quân ở Phủ lỵ Tân An (xã Mỹ Bình, huyện Tân Trụ ngày nay), cho người đến ngỏ lời giúp cho “bữa cháo”. Không chỉ giúp lương thực cho một vài bữa ăn cho đạo quân Nguyễn Vương, ông Hóng đã đốc thúc dân đào kênh và cho đoàn ghe lườn hàng chục chiếc chở lương thực cho quân chúa Nguyễn suốt 3 tháng trời. Kênh ông Hóng bắt nguồn từ đó. Khi Nguyễn Vương thống nhất sơn hà nhớ ơn người cũ muốn ban thưởng chức tước nhưng ông Hóng nhất định không nhận phẩm hàm.

Báo oán kỳ lạ

Giàu có là thế, nhưng chỉ sau 3 đời, khoảng gần 100 năm, cơ ngơi của ông Hóng chỉ còn lại mảnh ruộng rộng mấy ngàn mét vuông, phần mộ của ông và ngôi nhà lá rách nát…

Đến làng Bình Lãng, nhà báo Khuôn Việt đã tìm gặp Phan Văn Chơi – cháu 3 đời của ông Hóng và được dẫn đi thăm phần mộ của gia đình ông Hóng gồm 4 ngôi mô cổ xây từ đời Gia Long hình mái nhà. Phía trước mộ có bình phong, hồ bán nguyệt, phía sau có tường thấp bao 3 mặt.

Mộ vợ chồng ông Hóng còn lờ mờ vết đắp nổi hình con rồng, con Phụng. Qua thời gian, mộ 2 người con ông Hóng bị nứt nẻ lòi cả hòm ra ngoài. Toàn cảnh 4 ngôi mộ của gia đình giàu có đã từng nuôi dưỡng cả đạo quân giờ chỉ là dấu tích hoang phế đổ nát.

Đình thần xã Bình Lãng có nguồn gốc từ sự đóng góp tài lực của ông Hóng

Trong nhà chỉ còn lại dấu tích thời vàng son là cái bàn thờ trang nghiêm với tấm biển có 2 chữ Thọ dân do vua Minh Mạng ban tặng. Ông Chơi không giải thích được nguyên nhân sự phá sản của tổ tiên. Ông chỉ biết rằng theo sổ bộ, phần lớn ruộng đất đứng tên ông nội ông là Phan Văn Nghị ở khắp Tân Trụ và nhiều vùng đất khác giờ đã thành ruộng của Huyện Sĩ (Lê Phát Thanh – ông ngoại của Hoàng hậu Nam Phương) hoặc ruộng công điền.

Ông Đào Văn Hội lý giải việc phá sản này bằng nguyên nhân tâm linh. Là bởi, tính khí ông Hóng rất bất thường. Khi đi thăm thú trong vùng, gặp người tá điền nghèo khổ ruộng thất mùa, vợ đau, con rách rưới ông liền lấy cho mấy lạng bạc làm vốn hẹn năm sau làm ăn khá sẽ trả lại.

Đúng năm sau, ông Hóng quay lại, ngôi nhà đã khang trang, lúa đầy bồ. Vợ chồng người tá điền đội ơn ông trả nợ nhưng ông không lấy và còn bảo họ nếu cần vốn ông sẽ cho thêm. Ngược lại, gặp kẻ bê bối rượu chè cơ bạc, nợ nần ông đánh chết tươi rồi cho gia nhân đem tiền đến bồi thường nhân mạng. Thế lực của ông quá lớn nên chẳng ai dám thưa kiện.

Nuôi vịt đàn ở Bình Lãng

Thời ấy nhà Nguyễn còn cho phép người giàu được mua người mọi (người dân tộc thiểu số) về làm tôi đòi. Oái oăm, ông Hóng đã cho đổ đầy 1 ghe tiền kẽm, mổ bụng 2 người mọi dồn tiền vô bụng rồi bỏ lên ghe dìm xuống lòng kênh của mình để trấn yểm.

Những đêm trăng sáng, những người dân chài bắt cá trên kênh thường gặp 2 anh mọi chèo ghe đi trong sương mờ. Từ truyền thuyết này ông Hội cho rằng do giàu nhưng không tích đức lại giết người oan, bị hồn ma báo oán nên tiền của điền sản ông Hóng mau chóng tiêu tán.

Trong khi đó theo nghiên cứu của nhà báo Khuôn Việt, vào thời Minh Mạng gia đình này vẫn giữ được gia thế. Thời cháu nội ông Hóng, điền sản gia đình chắc hẳn cũng còn khá giả nên mộ con ông Hóng được xây dựng khang trang. Sự suy tàn chỉ bắt đầu vào đời vua Tự Đức thuộc thế hệ cháu nội ông Hóng. Đây là giai đoạn người Pháp xâm chiếm và cai trị miền Nam.

Lý giải sự xuống dốc

Theo nhà văn Sơn Nam trong sách Lịch sử khẩn hoang miền Nam thì sau khi đã chiếm toàn cõi Nam Kỳ, chính quyền thuộc địa đã ra nghị định buộc các chủ ruộng ở Nam Kỳ phải đăng bộ lại đất đai, điền sản trong thời hạn 3 tháng. Quá thời hạn này ruộng đất không đăng ký sẽ bị sung công thành công điền hoặc bán phát mãi.

Trong thực tế, khi Pháp xâm chiếm miền Nam, phần lớn điền chủ ở Nam Bộ đã tham gia các phong trào khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân hoặc chí ít cũng đóng góp vật lực tài sản cho khởi nghĩa, kháng chiến nên rất ít người ra đăng ký đất đai theo nghị định này.

Vàm Nhật Tảo, điểm bắt đầu của kênh ông Hóng chính là nơi ghi chiến tích đốt cháy chiến hạm Expérance của Pháp. Chính vì vậy phần lớn điền chủ vùng này đều phải trốn tránh, không đăng ký đất đai với Pháp và bị mất đất.

Cầu Binh Lãng bắc qua kênh

Huyện Sĩ, nguyên là thông ngôn của Pháp đã giàu lên nhanh chóng nhờ mua phát mãi ruộng đất bị trưng thu với giá rẻ như cho không. Ông Phan Văn Chơi trần tình với nhà báo Khôn Việt là ruộng đất do ông nội ông đứng bộ đã về tay Huyện Sĩ và thành ruộng công điền hẳn là do nguyên nhân này.

Kênh ông Hóng tạo sức sống cho cả vùng

Trong kho tàng dân ca dân gian Nam bộ có câu ca dao: “Ba phen Quạ nói với Diều/ Ngã kênh ông Hóng có nhiều vịt con”, cho thấy ông Hóng đã để lại cho đời sau 1 dòng kênh không chỉ để vận quân lương cho Nguyễn Ánh mà trong thời đầu mở cõi cho đến khi Pháp xâm chiếm miền Nam là thủy lộ quan trọng nối 2 sông Vàm Cỏ Đông, Tây, nối liền Sài Gòn và ĐBSCL. Dòng kênh này còn có vai trò quan trọng với huyện Tân Trụ, Tân An – vùng đất được khẩn hoang đầu tiên của Nam Bộ, nơi tập trung rất nhiều đồn điền trù phú.

Vào thập niên 1980 – 1990, huyện Tân Trụ thực hiện chủ trương đa dạng hóa cây trồng và thâm canh trên vùng đất vốn chỉ độc canh cây lúa. Nghiên cứu các yếu tố thổ nhưỡng đất đai, địa lý thủy văn của vùng này vấn đề khó khăn nhất trong chuyển vụ, tăng vụ là nguồn nước. Do nằm ở phía hạ lưu sông Vàm Cỏ nên 1 năm có 6 tháng nước mặn.

Nhưng từ kinh nghiệm dân gian ở 2 đầu kênh ông Hóng người ta phát hiện ra nước ông Vàm Cỏ Tây nhiễm mặn chậm hơn phía Vàm Cỏ Đông 1 tháng. Từ đây, Tân Trụ đã đào nhiều kênh dẫn nước từ Vàm Cỏ Tây qua phía Vàm Cỏ Đông, tận dụng 1 tháng nước ngọt này để tăng thêm 1 vụ lúa hoặc 1 vụ màu.

Vậy là, Tân Trụ đã có thêm vụ dưa hấu tết và nhiều loại nông sản mới. Ngay Bình Lãng, vùng đất của kênh ông Hóng đã trở thành vùng chuyên sản xuất lúa giống năng suất cao và hình hành tổ hợp tác sản xuất lúa giống cho khu vực phía Nam. Nhờ đó, đời sống người dân ở đây đã được nâng lên một bước.

Anh Kiệt

Gửi phản hồi