Nhà thờ Cái Bè

Linh vật thiêng Long Đình và lời tiên tri của Đức bổn sư

Chùa Tam Bửu sát chân núi Tượng, tại thị trấn Ba Chúc (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) – là nơi khai đạo Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa – 1 tôn giáo kháng chiến chống Pháp của phong trào Cần Vương. Dù hàng chục lần bị quân Pháp đốt cháy, cướp phá, ngôi chùa vẫn tồn tại cho đến ngày nay.

Trong chùa Tam Bửu có hơn 30 bàn hương án thờ Hội đồng Thượng Phật, Quan Thánh Đế Quân, Cửu huyền bá tánh, Thập vương Hộ pháp, Chánh tăng, Phật vương, Phật thầy Tây An, Phật trùm… Ngoài ra, trong chùa còn có 1 di vật bằng gỗ được gọi là “ngôi Long Đình” đặt trang trọng ở gian chánh điện để thờ 1 đấng bề trên cao trọng nào đó được gọi là “đấng Phật vương”.

Không ai biết cụ thể đấng Phật vương là ai, danh xưng là gì. Di vật có dáng vẻ giống chiếc kiệu gỗ dành cho vua, chúa nhưng không có đòn khiêng. Chiếc “kiệu” cao khoảng 3m, mỗi mặt có bề ngang khoảng 2m được chạm trổ long phụng uốn lượn; sơn son thếp vàng; bên trong để sẵn 1 cặp gối mặt thụt (kiểu gối xưa), 1 cặp lỗ ban xích và 1 cặp linh ấn (tạm hiểu là ấn để làm phép tâm linh).

Ngôi mộ của Trần Bá Lộc

Những cao đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho biết, ngôi Long Đình này là bản chính gốc kể từ ngày chế tác cho đến nay. Theo sử liệu, người khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là Đức bổn sư Ngô Lợi – 1 lãnh tụ kháng Pháp tại Nam Kỳ Lục tỉnh vào cuối thế kỷ XIX. Năm 1867, ông cùng đức Cố quản Trần Văn Thành lập căn cứ kháng chiến Láng Linh – Bãi Thưa. Năm 1871, căn cứ Láng Linh – Bãi Thưa thất thủ, bổn Sư Ngô Lợi rút về Bến Tre làm ẩn sĩ tu hành chờ thời cơ, thuyết pháp thu phục tín đồ, thật ra là để thu dụng nghĩa sĩ yêu nước, mưu đồ kháng chiến.

Năm 1876, ông đưa tín đồ trở về núi Tượng, Ba Chúc mượn cớ khai đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa để dựng cờ mở làng kháng chiến và cất chùa Tam Bửu. Thuở đó, Ba Chúc là vùng sơn địa hoang vu rừng, hiểm trở. Năm 1877, ông đem quân về Cai Lậy, Tiền Giang hợp nhất với cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Ong và Võ Văn Khả. Năm 1879, Lê Văn Ong và Lê Văn Khả bị Pháp đàn áp gắt gao, để bảo toàn lực lượng, Ngô Lợi đưa hết nghĩa quân đào thoát về làng kháng chiến Ba Chúc.

Ngôi Long Đình ở chùa Tam Bửu

Năm 1881, bổn sư Ngô Lợi lập đại trai đàn khai đạo. Trước khi khai đạo, đức bổn sư Ngô Lợi cho các đại đồ đệ lên núi Dài tìm gỗ cam đàn đóng ngôi Long Đình theo mẫu do ông vẽ sẵn rồi đặt vào nơi trang nghiêm nhất của chùa Tam Bửu.

Có người cho rằng Đức bổn sư Ngô Lợi chuẩn bị Long Đình là để sẵn sàng cho vua Hàm Nghi vào Nam ngự giá nhưng đa phần lại suy đoán rằng Long Đình là nhằm phục vụ cho 1 vị Phật Vương xuất thế. Nhưng phật vương chưa xuất hiện thì ngôi Long Đình đã bị Trần Bá Lộc mạo phạm độc chiếm.

Khi biết được việc Bổn sư Ngô Lợi khai đạo là nhằm quy tụ tín đồ hưởng ứng hịch Cần Vương kháng chiến, Trần Bá Lộc cho quân bao vây chùa Tam Bửu rồi truy tìm những người lãnh đạo để giết. Những cao đồ của Đức bổn sư không còn đường rút lui đành chui vào ngôi Long Đình ẩn trú. Điều lạ là ngôi Long Đình bằng những thanh gỗ trống hoác, không màn che nhưng quân Pháp đi qua đi lại nhiều lần vẫn không phát hiện ra.

Nhờ vậy, những người ẩn trú trong ngôi Long Đình hoàn toàn bình an vô sự. Khi quân Pháp rút đi, bổn sư Ngô Lợi cùng các cao đồ mới rời chùa, sang Campuchia lánh nạn. Từ sự kiện này tin đồn về sự linh thiêng của ngôi Long Đình càng vang dậy.

Năm 1885, Trần Bá Lộc lại dẫn binh lính kéo đến đàn áp. Lần này, chúng đốt sạch, phá sạch mọi thứ. Vì nghe các tín đồ đồn đại rằng, ngôi Long Đình là nguyên khí của giáo phái. Long Đình mất, giáo phái mới mất. Trần Bá Lộc cho quân kéo ngôi Long Đình về để ở nhà riêng của mình. Một lần nữa bổn sư Ngô Lợi phải chạy sang Campuchia lánh nạn.

Do vắng giáo chủ, các tín đồ tự đi tìm gỗ quý đóng lại 1 bản sao ngôi Long Đình để thờ tự. Khi biết tin, Đức bổn sư tiên tri: “Sau này, người ta tự mang Long Đình trả về chỗ cũ, mắc gì đóng cái mới? Người nào mang Long Đình đi sẽ chết nằm, chôn đứng, thiên hạ khinh khi”.

Không ai tin những điều này bởi Trần Bá Lộc đang ngất ngưởng trên Đình quyền lực. Không ngờ lời tiên tri lạ lùng đó hoàn toàn chính xác từ chuyện Trần Bá Lộc chôn đứng đến việc hoàn trả ngôi Long Đình.

Bắt dân đào kênh được cấp 1.000ha ruộng

Khi các cuộc khởi nghĩa đã tàn lụi, Lộc nghĩ cách khai phá vùng Đồng Tháp Mười với kế hoạch đào kênh xuyên qua Đồng Tháp. Người Pháp đang thực hiện chương trình khai thác thuộc địa, đào nhiều con kênh ở Nam kỳ nhưng không tin tưởng vào kế hoạch này nên đồng ý mà không ủng hộ, không cấp phương tiện và kinh phí. Lộc bắt dân các làng trong vùng phải làm xâu (lao động công ích bắt buộc) .

Mới đầu, đào thử 2 con kinh rộng 3 thước, dài 8km; năm 1896, cho dân đào thêm 10 con kinh nhỏ nữa và 1 con kinh rộng 10m, dài 47km, đi từ rạch Bà Bèo (phía bắc Cai Lậy) tới rạch Ruộng ở địa giới 2 tỉnh Sa Đéc – Vĩnh Long. Năm sau, con kinh đó hoàn thành, tức kinh Tổng đốc Lộc (Kênh Nguyễn Văn Tiếp ngày nay), và tức thì nhiều gia đình tới đó làm ăn.

Chân dung Trần Bá Lộc

Công việc đào kinh ấy rất khó nhọc: phải phát cỏ, đào tay, dùng xe trâu để tiếp tế nước và lương thực cho hàng trăm phu tại giữ đồng; nhiều người chết vì sốt rét và dịch tả. Mục đích của Lộc là mở 1 đồn điền lớn ở phía nam kinh Tổng đốc Lộc và dùng kinh đó để tháo nước trong đồng ra Tiền Giang cho đồn điền khỏi bị ngập. Nhờ công trình này, Lộc được cấp cho 1.000 mẫu đất và trở thành là 1 trong những người giàu nhứt ở Nam kỳ. Trước khi chết, Lộc còn hơn 2.000 mẫu ruộng và làm chủ cả cù lao Qưới Thiện…

Công của Lộc là làm thay đổi quan niệm của người Pháp về Đồng Tháp Mười, từ con kênh này họ mới tin rằng Đồng Tháp Mười vẫn có thể khai thác để trồng nông sản và bắt đầu đầu tư. Nhiều quan chức người Pháp không ưa Lộc vì sự tàn ác đến man rợ, nhưng phải nhìn nhận rằng: “Lộc là người dùng phương tiện cẩu thả, nhưng đạt mục đích chắc chắn”.

Toàn quyền Paul Doumer vào Nam lần nào cũng có xuống nhà thăm Lộc. Để tưởng thưởng công lao hãn mã của Lộc, năm 1899, Doumer cho Lộc làm thành viên của phái đoàn, tháp tùng với Doumer viếng thăm Bangkok. Ngoài ra trước khi chết Lộc còn được Doumer cất nhắc vào Hội đồng Tối cao Đông Dương (tương tự như quốc hội chung cho cả 5 xứ Bắc kỳ, Nam kỳ, Trung kỳ, Lào và Campuchia nhưng chỉ mang tính hình thức, quyền lực rất hạn chế).

Trần Bá Lộc sống dai để nhìn 2 em chết thảm

Trần Bá Lộc có 2 người em trai là Trần Bá Tường và Trần Bá Hựu. Cả 2 đều ra làm việc với Pháp rất sớm, cùng anh đàn áp, bắn giết các nghĩa quân. Trần Bá Hựu làm chủ quận Long Thành (Đồng Nai), còn Trần Bá Tường ngồi quận tại Long Xuyên (An Giang).

Năm 1875, Trần Bá Tường tham gia càn quét nghĩa quân trong cuộc khởi nghĩa Làng Linh do Phó Quản cơ Trần Văn Thành, 1 trong 12 đệ tử của Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên lãnh đạo. Trong trận nầy, Trần Bá Tường cho người do thám trước, rồi tự mình dẫn 1 cánh quân, đánh úp đồn Bảy Thưa là bản doanh của Trần Văn Thành. Tường nghĩ rằng có yếu tố bất ngờ, chênh lệch về quân số, trang bị vũ khí nên sẽ dễ dàng chiến thắng nhưng thật bất ngờ khu vực này được tổ chức phòng thủ kiên cố, và tinh thần chiến đấu của binh sĩ rất cao. Quân Pháp phải mất nhiều thời gian và tổn thất nhân mạng rất lớn mới chiếm được. Có lời đồn, Tường chết trong trận này.

Người em thứ 2 của Lộc là Trần Bá Hựu, được sang Pháp du học vừa đủ tri thức để làm quan cai trị. Năm 1881, Trần Bá Hựu làm chủ quận Long Thành, độc ác không kém Trần Bá Lộc. Tháng 2 năm 1881, nhà sư Trần Văn Tấn (pháp hiệu là Huyền Vi) cùng đồng đạo trong hội kín yêu nước kháng Pháp đã lập mưu giết chết Trần Bá Hựu, chấp nhận bị tử hình.

Tấm bia ghi công trạng trên mộ Trần Bá Lộc

Còn Trần Bá Lộc – kẻ gây nên hàng loạt tội ác tày trời, từ đàn áp khởi nghĩa, bắt sĩ phu, giết hại dân lành, đem quân đàn áp đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, đốt chùa Tam Bảo, cướp ngôi Long Đình linh thiêng về nhà làm của riêng… chết năm 1899 và bị chôn đứng theo đúng lời tiên tri của Đức bổn sư Ngô Lợi. 10 năm sau, con trai Lộc đã phá tan gia sản và tự sát thảm khốc. Ngôi Long Đình quay lại với chùa Tam Bửu một cách long trọng.

Anh Kiệt

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here