Kỳ 2: CHUYỆN HUYỀN BÍ, LI KỲ VỀ THẦN GIỮ CỦA

Mưa nắng thời gian bào mòn khiến nét chữ đã mờ nên không ai biết được tấm bia đá đó ghi gì? Gò đất, cây duối ấy có tự bao giờ? Chỉ thấy, các cụ trong làng đồn rằng: đó là hầm giữ của do người Tàu để lại, bị yểm bùa nên bà con không ai dám khai quật, sợ bị thần vật thì tan cửa nát nhà. Có người làng tôi kể rằng, vào một đêm trăng sáng, họ đang tát nước thì bỗng nhìn thấy một đàn lợn vàng khoảng hơn chục con nối đuôi nhau đùa giỡn trên gò. Thấy vậy, họ buông gàu sòng đuổi theo thì đàn lợn bỗng biến mất.

Câu chuyện được nhiều người trong thôn lan truyền đi khắp nơi. Nhiều tay săn đồ cổ lặn lội từ Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn… đến lùng bắt, nhưng mỗi lần họ xuất hiện, đàn lợn đều biến mất. Lại có người kể rằng, trên gò có một đôi rắn hổ mang to như bắp chân, đầu có mào rất dữ tợn.

Chúng thường nằm vo tròn phơi nắng trên hai tấm bia đá. Có lần, cha tôi đi làm đồng, nhặt được xác rắn lột trên bờ ruộng gần gò. Đo vội cũng được hơn 3 đòn gánh. Điều đó khiến câu chuyện về đôi rắn thần càng thêm thuyết phục. Đám trẻ trâu chúng tôi sợ lắm. Chẳng đứa nào dám bén mảng đến gần gò mặc dầu cỏ ở đó tốt um.

Cây duối cổ thụ

Mùa đông năm ấy, mẹ tôi tranh thủ trồng mấy sào khoai trên thửa ruộng đã gặt. Thấy gò cao nhiều đất, bà bèn mang cuốc xẻng, quang gánh ra đào đất ở gò đổ thêm vào ruộng. Tối hôm ấy về nhà, bà lên cơn sốt sình sịch. Trời rét cắt da cắt thịt mà người bà vã mồ hôi như tắm, mặt đỏ nhừ. Bà nằm bệt trên giường, miệng rên hừ hừ. Bố tôi soi đèn ra vườn hái lá nhọ nồi giã vắt lấy nước cho bà uống, bã thì đắp lên trán. Nửa đêm, mẹ tôi bỗng vùng dậy khỏi giường, mắt thất thần, tay chắp trước ngực, van xin: “Xin hai ngài tha tội cho con. Quả thực con không biết nên đã phạm thượng đến đất thiêng của ngài. Mong ngài xóa u xóa mê xóa lầm xóa lỗi”.

Nói đoạn, mẹ tôi thét lên một tiếng, ngã vật xuống nền đất lạnh, bất tỉnh. Cả nhà tôi tá hỏa, vội cho mẹ tôi lên cáng khiêng đến bệnh viện huyện cấp cứu. Suốt ba ngày ba đêm, mẹ tôi nằm mê man, hết sốt nóng đến sốt lạnh. Bác sĩ xét nghiệm đủ thứ cũng chẳng xác định mẹ tôi bị bệnh gì. Bố tôi lo lắng ra mặt. Buổi trưa hôm ấy, từ bệnh viện về, bố tôi đến thẳng nhà cụ đồ Mão, người rất giỏi về tử vi, lý số, phong thủy ở làng, để nhờ cụ bấm độn xem mẹ tôi có mệnh hệ gì không?

Sau khi gieo quẻ, cụ cất giọng hỏi bố tôi: “Không biết chị nhà anh có động chạm gì đến gò đất ngoài cánh đồng Khoang không?”. Bố tôi vội trả lời: “Thưa cụ! Cách đây mấy hôm, nhà con có cuốc ít đất ở gò đổ thêm vào ruộng để trồng khoai ạ”. “Ấy chết! Sao chị ấy lại dám đụng vào gò đất thiêng. Từ bao đời nay, dân làng ta đã đồn thổi đó là hầm giữ của của người Tàu. Hồi xưa, nước Việt ta bị quan Tàu sang vơ vét vàng bạc nhưng lại không được phép mang về nước họ, cũng có lẽ vì đướng sá quá xa xôi nguy hiểm, nhiều cướp trộm dọc đường nên phải tìm cách chôn dấu ở An Nam quốc.

Để giữ của đó cho con cháu đến lấy về sau, chúng thường chôn sống theo các trinh nữ rồi phong thần giữ của. Linh hồn cô gái khi chết đi sẽ trở thành một loại “ thần” bảo vệ cả ngôi mộ. Đó là một tà thuật thường được các Hoa kiều sử dụng để bảo bệ kho báu của mình. Hễ ai đụng đến kho báu, người ấy sẽ chết bất đắc kỳ tử. Lời nguyền đó khiến gò đất ở cánh đồng làng ta vẫn vẹn nguyện  trơ gan cùng tuế nguyệt biết bao đời. Ngay cả đám lục lâm thảo khấu cũng chẳng dám đụng đến nữa là”.

Người Hoa thường dùng trinh nữ để trấn yểm kho báu

Bố tôi bảo: “Thưa cụ! Chuyện thần giữ của, con cũng đã nghe ông nội con kể từ lúc con còn nhỏ. Nhưng thú thực, con vẫn bán tín bán nghi. Nó cứ “bảy thật ba hư” thế nào ấy”. Cụ Mão cười hiền, đưa bàn tay với những ngón dài, thanh mảnh, trắng muốt vuốt chòm râu bạc như cước. Cụ bảo: “Để tôi kể anh nghe câu chuyện này, vốn đã được lưu truyền trong dân gian từ lâu”. Nhấp một ngụm trà, cụ Mão chậm rãi kể, giọng cụ âm u.

Ngày xưa, có một tay lái buôn người Hoa từ vùng Vạn Lai, thuộc trấn Sơn Nam, Trung Quốc xa xôi sang ta làm ăn, buôn bán. Sau mấy chục năm đầu tắt mặt tối, buôn lúc đầu mùa, bán khi giáp hạt, rồi cho vay nặng lãi, lãi mẹ đẻ lãi con, hắn trở nên giàu có nhất vùng. Trong nhà vàng bạc châu báu kể có ức vạn. Những tay vương hầu cơ hồ không ai qua mặt được hắn.

Khi tóc đã muối tiêu, trong tay có tiền ròng bạc chảy, hắn nghĩ đến chuyện hồi hương. Ngặt nỗi, triều đình ta thời đó có lệnh cấm rất nghiêm, không cho người  nước ngoài đưa vàng bạc ra khỏi bờ cõi. Thực tế đã xảy ra chuyện, có nhiều người lén lút tìm cách vận chuyển vàng bạc về nước nhưng đã không che được mắt nhà chức trách nên của cải bị tịch thu, còn người thì lập tức bị trục xuất về nước. Bởi vậy, hắn mới nghĩ ra cách giấu một số vàng bạc ở bên này, chờ ngày sau, khi có cơ hội tốt, con cháu hắn sẽ sang lấy về. Hắn chuẩn bị việc đó rất kỹ lưỡng.

Lấy cớ thờ Phật, hắn xin phép chính quyền sở tại dựng một ngôi chùa trên đồi hoang gần nhà. Khi đào móng, hắn bí mật xây một cái hầm ăn sâu dưới lòng đất để chôn của. Sau đó, hắn rắp tâm tìm một người con gái đồng trinh chôn luôn bên cạnh các chum vàng chum bạc để làm thần giữ của. Nếu ai đó muốn thâm nhập hầm mà không biết các tín hiệu, mật mã hắn đã ước hẹn với thần thì đừng hòng đưa một ly của cải lên khỏi mặt đất. Thần giữ của sẽ vật chết ngay tại cửa hầm.

Hồi ấy ở trong vùng có một ông giám sinh nghèo rớt mùng tơi. Con gái ông tuổi tròn đôi tám, đẹp nức tiếng cả vùng. Nghe tin, người khách buôn Hoa kiều vội mang cau rượu đến nhà hỏi cô gái về làm vợ lẽ. Tuy biết hắn giàu có, con mình có thể được ăn sung mặc sướng cả đời nhưng ông giám sinh vẫn không bằng lòng vì ông ghét cái thói cho vay nặng lãi của đám con buôn như hắn. Tay Hoa kiều thấy thế, bèn đặt lên mâm một trăm lạng vàng, nói là xin đưa trước làm sính lễ. Trông thấy những nén vàng sáng chói, ông giám sinh nghĩ đến mấy món nợ chưa cách gì trả được. Thế là ông nhận lời gả con cho hắn.

Đưa nàng về nhà, người khách buôn lập tức cho nàng ở một buồng riêng. Hàng ngày, hắn chăm chút, nâng niu nàng như một bà hoàng. Song có một điều lạ là hắn chẳng bao giờ ăn nằm với nàng. Suốt mấy tuần liền mà hắn vẫn không động phòng. Đồ ăn thức uống hắn cung phụng nàng chu đáo nhưng chỉ toàn đồ chay tịnh. Hắn lấy cớ là phải ăn chay niệm Phật. Ba tháng một lần, hắn lại cho nàng một bộ xống áo mới.

Thời gian thấm thoắt thoi đưa. Hai năm vèo trôi qua mà cô gái vẫn phòng không bóng chiếc. Tủi phận, một hôm, nàng xin phép chồng về nhà thăm cha. Từ chối mãi không được, bất đắc dĩ hắn phải để cho nàng đi với điều kiện “phải trở về ngay trong ngày”. Cha con lâu ngày không gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Ông giám sinh sụt sùi bảo: “Từ khi con ra đi, cha rất hối hận. Nếu nhà ta không túng quẫn thì cha đâu để con chịu cảnh lẽ mọn thế này. Thường ngày chồng con đối đãi với con ra sao? Con cái của con đâu rồi?”. Nghe cha hỏi thế, cô gái bưng mặt khóc nấc lên, vừa khóc vừa kể hết sự tình.

Nghe xong, ông giám sinh giật mình: “Thôi chết! Chắc là nó chọn con làm thần giữ của rồi. Vậy con có thấy trong nhà nó có chuyện gì lạ không?”. “Dạ. Trước kia, ăn cơm tối xong là nó khóa cửa ngủ ngay. Chỉ có độ vài tháng nay, tối nào con cũng thấy bố con nhà nó vác cuốc thuổng đi, gần sáng mới lại về”. Vừa nghe con gái nói vậy, ông giám sinh kêu lên: “Trời ơi! Thế là họa sắp đến nơi rồi đó”. Hai bố con ôm nhau khóc nấc lên.

Khóc một hồi, ông giám sinh vội đi lấy túi hạt vừng, dúi vào tay con dặn: “Con hãy về sớm cho nó khỏi ngờ. Hễ lúc nào nó đem con đi đâu thì nhớ rắc những hạt này xuống bên lối đi để cho cha biết mà tìm”. Từ bấy, ông giám sinh năng đến thăm con, trung bình mỗi tuần một lần. Ông không vào nhà rể, chỉ đứng ngoài cổng nhìn vào, cho đến khi nhìn thấy bóng con gái, ông mới yên tâm lui gót.

Cho tới một đêm trăng suông, sương lạnh, sau khi được tắm rửa sạch sẽ, mặc quần áo đẹp, cô gái được đưa lên kiệu dẫn đi. Nhớ lời cha dặn, cô bí mật bỏ vào túi áo nắm hạt vừng mà cha cô đưa cho trước đó. Trên đường đi, cô rắc hạt vừng xuống đường. Đi một hồi lâu thì tới khu hầm mộ. Người ta trói trặt cô lại, đặt vào một chiếc quan tài sơn son thếp vàng. Xung quanh quan tài, người ta xếp rất nhiều những chum, vại bình theo một quy cách mà cô không thể hiểu được. Thầy phù thủy trước khi làm phép, nhét vào miệng cô một củ sâm, đảm bảo cho cô sống được 100 ngày mà không cần phải ăn uống gì.

Sau 100 ngày, tác dụng của sâm hết, cô sẽ chết. Lúc này cô mới thực sự biến thành thần. Buổi làm phép, đọc thần chú diễn ra suốt đêm. Kết thúc buổi lễ, áo quan được đóng lại. Cửa hầm mộ được bít vào.

Thời gian đó, ông giám sinh bận việc nên không qua thăm con thường xuyên được. Mãi gần tháng sau ông mới tới thì không thấy bóng con đâu. Ông sốt sắng bước vào nhà. Con rể thấy ông, giả bộ tay bắt mặt mừng, ra chừng thân mật. Hắn bảo: “Vợ con bận lên kinh đô cất hàng chưa về. Mời cha ở lại dùng cơm trưa với con ạ!”. Ông giám sinh cố giữ vẻ mặt tự nhiên. Giả vờ buồn đi tiểu, ông ra sau vườn đưa mắt nhìn quanh. Thấy hai bên lối đi dẫn lên quả đồi, vừng mọc xanh cao chừng gang tay.

Ông giật mình, chạy một mạch tới dinh trấn Sơn Nam, trình bày mọi việc với quan trấn thủ. Quan liền điểm lấy 50 quân sĩ đi suốt đêm về vạn Lai Triều. Lần theo con đường mọc đầy vừng, đi cách nhà tên lái buôn chừng nửa dặm thì thấy một cái am vừa mới xây xong trên một cái đồi hoang. Ông giám sinh thưa: “Hẳn chỗ này chứ không sai. Xin quan cho đào lên ngay”. Thấy vậy, tên lái buôn nhất định không chịu. Hắn lấy cớ động mạch đất có quan hệ với vận mệnh nhà hắn nên cố tình không cho lính đào.

Quan trấn thủ  bèn nghĩ kế,  bắt hai bên làm tờ cam kết. Nếu đào không thấy gì thì ông giám sinh phải bỏ tiền ra xây lại am và phải bồi thường thiệt hại cho chàng rể. Trái lại, nếu phát hiện được tiền nong của cải gì thì người chủ am đó không được nhận. Giấy làm xong, người khách buôn không chịu ký khiến quan càng ngờ vực. Ông liền hạ lệnh cho lính đào ngay. Gia chủ muốn hay không cũng mặc.

Đào sâu chừng nửa mét thấy hiện ra một bờ gạch xây chìm, chạy dài chừng một gian nhà, xây theo lối cuốn bằng gạch Bát Tràng rất kiên cố. Trong khi người khách buôn lăn ra đất khóc lóc vật vã, toán lính tiếp tục đào sâu xuống, chừng ngập đầu người thì tìm được cửa hầm. Lớp gạch vừa đổ xuống đã hiện ra ánh sáng le lói của hai ngọn đèn. Bước vào bên trong, đám binh lính giật mình khi thấy cô gái ngồi trên một cái ghế dựa bằng đá, tóc xõa xượi, đầu gục xuống ngực, hai chân dạng ra hai bên, mỗi chân đạp lên một cái chum lớn. Ông giám sinh mếu máo ôm chầm lấy con.

Nhưng ông không sao nhấc con lên được vì hai tay cô gái bị trói vào bành ghế, miệng thì bị gắn kín bằng nhựa. Một tên lính vội lấy dao nạy nhựa ra thấy bên trong miệng có một củ sâm chưa tan hết. Ngực nàng vẫn còn đập thoi thóp. Người ta vội vực nàng lên khỏi hầm cứu chữa.

Khi toán lính rà soát mọi vật thì thấy hai cái chum mà cô gái đạp chân lên có đề mấy chữ: “Một nghìn cân hoàng kim”. Bên tả, bên hữu có hai dãy chum nhỏ, mỗi dãy mười cái, ngoài đều đề chữ: “Năm trăm cân bạch kim”. Mở ra điểm lại đúng như số đã đề. Hai cây đèn cũng một bằng vàng, một bằng bạc.

Nhờ được sự chăm sóc chu đáo nên cô gái dần dần tỉnh lại. Quan trấn chia số của cải ra làm ba: cha con ông giám sinh được hưởng một phần, còn bao nhiêu tịch thu làm của công. Riêng người lái buôn bị đem ra pháp trường xử trảm.

Kể đến đây, cụ đồ Mão bảo: “Câu chuyện kinh dị tôi vừa kể được ghi chép tỉ mỉ trong cuốn “Sơn cư tạp thuật”. Có người tin, có người không tin. Nhưng thực tế, trong lịch sử, khi người Hoa đến xâm lược nước ta, họ đã vơ ve rất nhiều của cải. Chính vì quá nhiều không thể vận chuyển đi hết nên họ đã vận dụng bí thuật “Nguyệt Thần Hộ Bảo”.

Thuật này có từ rất lâu, kết hợp với các thuật phong thủy, độc dược để cất giữ kho báu. Bí thuật này khởi nguồn từ đạo giáo, trong sách “Thuật Đạo Môn” do Định Quang Tiên ở Bích Du Cung viết. Một bảo tàng kho báu được xây dựng dựa trên âm phần, âm thần, âm sát, tức là tam âm. Âm phần là phần đất được chọn để xây dựng kho tàng. Thuật sĩ phải dụng thuật âm dương phong thủy để tính toán sự luân chuyển âm dương và thay đổi phong thủy ở mảnh đất đó.

Sau đó dụng 108 cọc kim loại cắm xuống đất ấy, hòng định âm dương. Người Hoa thường có những suy nghĩ như thế này: “Không phải tộc ta, tất có lòng khác”, “ Người không vì mình trời tru đất diệt” nên những bí thuật tổn hao âm đức, trời và người đều căm phẫn như thế này, vẫn được họ sử dụng, hòng bảo tồn của cải cho con cháu. Bởi để từ bỏ một núi vàng, không phải là một điều đơn giản”.

(còn nữa)

Nhà báo Hoàng Anh Sướng

 

Gửi phản hồi