KỲ 1: NHỮNG CHUYỆN KỲ LẠ VỀ MỘ Ở QUÊ TÔI

Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo nhưng nổi tiếng là “địa linh nhân kiệt” thuộc huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (cũ). Nơi đây đã sản sinh ra Lưỡng quốc Đông Các Đại học sỹ Vũ Công Trấn, đỗ Tiến sỹ khoa Giáp Thìn 1724. Đó cũng là quê hương của cụ Phạm Vũ Quyền (đời Gia Long thứ 6 – 1807) nổi tiếng học rộng, tài cao, danh sư dạy 3 vua triều Nguyễn, được vua Tự Đức ban tặng đôi câu đối: “Sự nghiệp tam Triều vọng. Văn chương nhất Quốc sư”.

Đặc biệt, danh nhân Thám Hoa Vũ Phạm Hàm, nổi tiếng thông minh, được mệnh danh “Thần đồng Đầm sen” đỗ “Tam nguyên đệ nhất giáp”, người để lại những áng văn thơ tuyệt tác cho đất nước cũng sinh ra, lớn lên ở đây.

Quê tôi đẹp lắm, vẻ đẹp điển hình của vùng nông thôn Bắc Bộ với cây đa, giếng nước, sân đình, mái chùa làng cổ vài trăm năm tuổi. Là đất địa linh nên mỗi cảnh vật, tấc đất nơi đây đều chứa đựng những huyền tích, trong đó, có rất nhiều chuyện tâm linh kỳ bí. Bởi thế, ngay từ hồi nhỏ, tôi đã tin vào sự linh ứng giữa hai cõi âm-dương.

Thuở nhỏ, vào những ngày rằm và mồng một, tôi vẫn thường theo mẹ đi lễ chùa. Chùa làng tôi tuy không lớn nhưng cổ kính, nằm cách nhà tôi mấy chục bước chân, nổi tiếng là linh thiêng. Những ai bị ốm đau, mất trộm mắt cắp, lên chùa kêu cầu, chỉ một hai hôm là bệnh đỡ, đồ bị lấy mất, kẻ trộm mang đến trả, để tận cửa nhà. Nhiều người hiếm muộn con cái đến chùa làm lễ cầu, một thời gian sau sinh được con.

Có người cao số, khó lấy vợ lấy chồng, đến chùa cầu, chỉ ít hôm là tìm được ý trung nhân. 43 tuổi, bố mẹ mới sinh ra tôi. Mẹ tôi kể, lúc mang thai, bà thường lên chùa cầu nguyện đức Phật phù hộ cho bà đẻ được một quý tử. Vì trước đó, mẹ tôi sinh toàn con gái. Lúc tôi chào đời, mẹ khóc òa vì sung sướng.

Cha tôi mở tiệc linh đình suốt 3 ngày 3 đêm. Cụ Mão, cụ đồ nổi tiếng trong làng đến dự tiệc, đặt tên cho tôi là Hoàng Anh Sướng với hàm ý, bố mẹ tôi quá vui sướng khi sinh được quý tử, thỏa lòng mong ước bấy lâu, đồng thời, cũng mong muốn cuộc đời tôi sau này được sung sướng.

Có điều, lúc bé, tôi rất hay đau ốm, sài đẹn. Thấy vậy, cụ đồ Mão khuyên cha mẹ tôi bán khoán tôi lên chùa để được thần linh che chở. Đó chính là lý do mà ngày rằm mồng một nào, dù bận rộn đến đâu, mẹ cũng đưa tôi lên chùa lễ Phật.

Cha tôi bảo: ngôi chùa làng mình thiêng lắm. Thời chống Mỹ, chùa làng tôi là nơi họp bàn thường xuyên của nhiều cán bộ cao cấp. Tối ngày 5 tháng 2 năm 1968, một số tướng lĩnh quân đội bí mật về chùa làng tôi họp bàn. Không biết mật thám địch dò la tin tức thế nào mà 6h sáng hôm sau, khi các tướng lĩnh vừa rút khỏi chùa thì máy bay Mỹ ào đến thả bom. Chúng nhằm chùa và đình làng tôi mà thả. Bom trút xuống như mưa. (Đình làng tôi lúc đó làm kho chứa lương thực cho quân đội. Chuyện sẽ kể ở phần sau).

Đình làng

Kỳ lạ thay, đình, chùa làng tôi không hề sứt mẻ gì. Vì bom thả chệch. Xung quanh chùa, hàng chục hố bom to hàng trăm m2, sâu 3-4 m. Sau này, trở thành hệ thống ao, chuôm bao quanh chùa. Đình làng cũng vậy, vẫn vẹn nguyên. Chỉ có những người dân vô tội xóm tôi là chết rất nhiều. Nhà bác Ngh., cách nhà tôi không xa, chết liền một lúc 3 người. Chị Gái, con cả của bác, bị mảnh bom phay trúng bụng, gan ruột lòi hết cả ra ngoài. Chị giang hai tay, ôm đống lòng, lết đến cửa hầm thì chết. Nhà ông V., chết cả 4 vợ con. Xác nằm dài một dãy. Nhà bà L, chết hai người.

Đầu bay một nơi, chân tay văng một nẻo. Anh K. đầu xóm bị bom rơi trúng. Xác tan thành trăm mảnh. Tim, gan, ruột bay lên cả bụi tre. Mấy ngày sau, mùi hôi thối tỏa ra, bầy chim kéo đến rỉa, dân làng mới biết. Trận mưa bom ấy kéo dài chừng 15 phút nhưng riêng xóm tôi đã chết mất hơn 20 người.

Tiếng khóc than dậy trời đất. Ngày 6 tháng 2 trở thành ngày giỗ của rất nhiều gia đình. Để tưởng nhớ những nạn nhân xấu số ấy, làng tôi đã dựng một tấm bia to ngay đầu ngõ nhà tôi, dưới gốc cây đại cổ thụ, gọi là bia căm thù. Sau này, nỗi đau nguôi ngoai, ngẫm về trận bom kinh hoàng ấy, người dân quê tôi lại bàn về sự linh thiêng của ngôi chùa.

Họ bảo, chỉ có sự linh ứng, chở che của các đấng thần linh, đình chùa làng tôi mới nguyên vẹn trong cơn mưa bom bão đạn khủng khiếp. Từ bấy, cứ vào ngày rằm, mồng một, người ta lại kéo đến chùa lễ đông như trảy hội.

Đình làng tôi toạ lạc trên một khu đất cao ráo ở giữa làng, cạnh gốc đa cổ thụ tán lá sum suê. Đình thờ 3 vị phúc thần: Tương Vũ tên húy là Quang Y, Nhị Vân công chúa, phu nhân của đức thành hoàng và Bạch Vân công chúa, một nữ tướng của Hai Bà Trưng. Vào những năm 1960 của thế kỷ trước, khắp các vùng nông thôn miền Bắc rộ lên phong trào bài trừ mê tín dị đoan, nhiều ngôi đình, chùa cổ bị đập phá tan tành. Rất may, đình làng tôi không bị phá nhưng trở thành kho chứa lương thực của Hợp tác xã.

Một số người tham lam đã lấy hoành phi, câu đối, cửa gỗ, phiến đá… ở đình về làm cầu ao, che chắn chuồng lợn. Sau này, họ đều gặp phải những tai họa rất rùng rợn. Người dùng hoành phi làm chuồng lợn, nuôi đàn lợn nào, hễ sắp xuất chuồng là đàn ấy lăn đùng ra chết, toàn chết đột tử, thịt da tím tái nên không thể bán được, cho dù bán rẻ, chỉ có đào hố chôn. Về sau, người đó mắc bệnh điên. Một hôm, ông trèo lên trên nóc chuồng lợn, chân dậm tại chỗ, tay chào theo lối nhà binh, miệng hát vang bài “Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi”. Hát xong, ông lao đầu xuống nền xi măng. Ông chết. Người dùng phiến đá xanh làm cầu ao thì vợ đẻ toàn con gái.

Đẻ cố mãi mới được mụn con trai. Cả nhà cưng chiều như cục vàng. Lên 5 tuổi, một lần ra cầu ao chơi, đứa trẻ trượt chân, chết đuối. Cả nhà không biết, táo tác đi tìm khắp làng trên, xóm dưới. Tìm mãi không thấy. Trưa hôm sau, người mẹ ra rửa rau, nhìn thấy xác con nổi, trương phềnh. Chị lao ùm xuống vớt xác con lên. Đặt con xuống phiến đá, chị vừa mới kêu lên: “Ối con ơi!”, bỗng dưng, máu đen từ miệng, từ mũi đứa bé ộc ra như tháo cống. Sau cái chết của con, chị lăn đùng ra ốm.

Hết sốt nóng lại sốt rét. Thỉnh thoảng chị lại lên cơn mê sảng, mặt thất thần. Nghe cụ đồ Mão khuyên, chồng chị khiêng phiến đá trả lại đình. Thế mà mãi nửa năm sau, chị mới hồi lại người. Từ bấy, người dân làng tôi không ai dám sơ múi bất kỳ đồ vật gì của đình, chùa. Họ bảo, phá chùa, đình, đền, miếu là những việc gây nghiệp quả vô cùng lớn, cái giá phải trả không hề nhỏ. Nghiệp kiếp này đã trả chỉ là một phần rất nhỏ trong nghiệp báo phải trả hàng vạn kiếp sau nữa.

Cây duối cổ thụ

Đình làng tôi trông ra hồ nước rộng mênh mông. Vào mùa hạ, sen nở, hương thơm bay khắp làng. Ở giữa hồ có một gò đất nhô lên, dân làng gọi là gò Ông Voi, nổi tiếng linh thiêng. Cả trăm năm nay, người ta vẫn đồn rằng đó là gò đất địa linh, nơi hội tụ nguyên khí của trời đất. Nếu ai táng được mồ mả tổ tiên, ông bà vào đó, gia đình, ắt sẽ có người làm vương làm tướng.

Tôi đã nhiều lần bơi ra gò Ông Voi để tìm hiểu, nghiên cứu. Gò rất nhỏ, diện tích chỉ bằng 4 cái chiếu hoa. Điều kỳ lạ là nước quanh năm mấp mé mà đất trên gò vẫn rắn đanh. Vào dịp cuối năm, nước hồ cạn, dân làng thường gieo mạ, cấy lúa. Một số người đã cuốc, lấy đất trên gò để đắp bờ ruộng nhưng không hiểu sao, đất trên gò vẫn cứ đầy lên. Cỏ trên gò thì vô cùng tươi tốt, xanh mướt, đầy sức sống.

Đã có lần, vào sáng sớm, tôi ra gò ngồi thiền. Năng lượng vào trong tôi nhiều đến độ thỉnh thoảng, toàn thân tôi rung lên bần bật. Chỉ ngồi chừng 5 phút là tôi nhập định. Ngồi thiền xong, người thấy rất sảng khoái, nhẹ nhõm, thư thới. Sau này, tôi cũng đã đưa một số nhà tâm linh, phong thủy nổi tiếng về nghiên cứu.

Ai cũng khẳng định đây là một trong những “thiên huyệt” của vùng đất địa linh. Có điều, vì là thiên huyệt nên phải có đủ phúc, đủ duyên “thiên táng” trời cho mới đặt mộ vào đó được.

Chính vì tiếng đồn về gò Ông Voi là đất địa linh lan truyền suốt mấy trăm năm qua nên một số người ở quê tôi và cả những làng bên cạnh, đã lén lút vùi trộm hài cốt tổ tiên, ông bà lên gò. Song không biết có phải vì sự linh thiêng của gò Ông Voi, vì cái duyên thiên táng “trời cho ai, người đó mới được” ấy hay không mà những người vùi trộm mồ mả dẫu có lén lút thực hiện vào giữa đêm khuya thanh vắng hay sáng sớm tinh mơ, thậm chí, giữa đêm mưa giông chớp giật, sấm chớp đùng đoàng thì vẫn bị phát hiện.

Ngay lập tức, tiếng trống đình làng vang lên dồn dập, hối thúc như tiếng trống Mê Linh. Già trẻ, gái trai nườm nượp kéo về sân đình. Các cụ cao niên tay run run thành kính thắp hương, kính cẩn báo cáo sự việc tày đình trước thần hoàng làng mà giọng vẫn không nén nổi sự giận dữ. Lời khấn vừa dứt, bát hương bỗng bốc cháy đùng đùng. Thành hoàng làng dường như cũng đang nổi giận.

Hàng chục chàng trai lực lưỡng, cơ bắp cuồn cuộn, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm những chiếc thuốn bằng sắt, thuổng, xà beng, ào ào lội nước, tiến về phía gò. Từng xăng-ti-mét đất được hàng trăm con mắt săm soi. Những chiếc thuốn sắt dưới sức nặng của những đôi cánh tay lực lưỡng thuốn sâu hàng mét xuống lòng gò. Hùng hục, hăm hở, tỉ mẩn, kỹ lưỡng. Cảm tưởng một con kiến trên gò cũng không thể chạy thoát nổi.

“Kịch. Kịch”. Khi đầu mũi thuốn chạm phải những vật rắn, dấu hiệu của tiểu sành, nồi đồng, niêu đất chứa hài cốt, lập tức những nhát cuốc, thuổng, xẻng bổ phầm phập. Đất được đào bới lên nhanh như máy. Phát hiện ra hài cốt, không cần biết đó là của ai, thuộc gia đình nào, vẫn hàng chục cái cuốc, xẻng, thuốc vung lên băm vằm, chặt đập. Loáng một cái, bộ hài cốt vỡ tan tành thành ngàn mảnh rồi bị ném bay vèo xuống hồ nước trong tiếng la ó, hò reo của dân làng.

Có một lần, khi hai thanh niên bứng lên cái nồi đồng sáng loáng từ hố sâu chừng 1m. Anh Đ., dân quân tự vệ xã, mặt đỏ phừng phừng, mồ hôi nhuễ nhoại giật phắt lấy, mở vung nồi, vạch quần, đứng đái ngay vào sọ đầu lâu. Vừa đái, anh vừa ngửa mặt cười ha hả, đầy thỏa thuê. Đái xong, anh dùng chân đá bay cái nồi đồng. Đầu lâu, xương ống chân, xương ống tay, xương sườn văng tung tóe. Mọi người đổ xô vào thi nhau giẫm, đạp, đập. Vài phút sau, bộ xương người đen bóng đã hòa tan vào đất.

Cũng năm ấy, con trai anh Đ. tên là Th. đi chăn trâu ở bãi sông. Th. đang cưỡi trên lưng trâu thì bỗng dưng con trâu nổi điên. Nó phi như tên bắn. Th. ngã lộn cổ xuống đất, đầu đập vào tảng đá ven sông, chết tươi. Vài tháng sau, anh Đ. đạp xe sang bãi trồng ngô. Đang lên con dốc đê đầu làng thì nhìn thấy chiếc xe công nông trở gạch lao từ trên dốc xuống. Chiếc xe bị mất phanh.

Anh Đ. hốt hoảng lao xe đạp vào bụi cây bên phải con dốc. Tay lái xe luống cuống cũng ngoặt tay lái về phía bụi cây. Chiếc xe chở đầy gạch đâm đánh rầm. Bánh trước nghiến lên đầu anh Đ.. Từ bấy dân làng tôi sợ, không ai dám đập, chặt hài cốt nữa.

Ngay gần hồ nước rộng là cánh đồng khoang. Người dân quê tôi một năm cấy hai vụ mùa và chiêm. Ngoài ra, họ còn trồng xen cạnh vụ đông. Nước hồ đủ tưới tiêu cho cả cánh đồng. Nhà tôi cũng có mấy sào ruộng ở đó.

Giữa cánh đồng, gần khu ruộng nhà tôi, có một gò đất cao nổi lên. Trên đó, có một cây duối cổ thụ dễ vài trăm năm tuổi, thân mốc thếch, to hai người ôm không xuể, tán lá xum xuê, cỏ dại mọc um tùm. Ngay cạnh gốc duối là hai tấm bia đá cổ, cao chừng một thước, khắc chữ Hán.

Mưa nắng thời gian bào mòn khiến nét chữ đã mờ nên không ai biết được tấm bia đá đó ghi gì? Gò đất, cây duối ấy có tự bao giờ? Chỉ thấy, các cụ trong làng đồn rằng: đó là hầm giữ của do người Tàu để lại, bị yểm bùa nên bà con không ai dám khai quật, sợ bị thần vật thì tan cửa nát nhà. Có người làng tôi kể rằng, vào một đêm trăng sáng, họ đang tát nước thì bỗng nhìn thấy một đàn lợn vàng khoảng hơn chục con nối đuôi nhau đùa giỡn trên gò. Thấy vậy, họ buông gàu sòng đuổi theo thì đàn lợn bỗng biến mất.

Câu chuyện được nhiều người trong thôn lan truyền đi khắp nơi. Nhiều tay săn đồ cổ lặn lội từ Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn… đến lùng bắt, nhưng mỗi lần họ xuất hiện, đàn lợn đều biến mất. Lại có người kể rằng, trên gò có một đôi rắn hổ mang to như bắp chân, đầu có mào rất dữ tợn. Chúng thường nằm vo tròn phơi nắng trên hai tấm bia đá. Có lần, cha tôi đi làm đồng, nhặt được xác rắn lột trên bờ ruộng gần gò. Đo vội cũng được hơn 3 đòn gánh. Điều đó khiến câu chuyện về đôi rắn thần càng thêm thuyết phục. Đám trẻ trâu chúng tôi sợ lắm. Chẳng đứa nào dám bén mảng đến gần gò mặc dầu cỏ ở đó tốt um.

(Còn nữa)

Nhà báo Hoàng Anh Sướng

Gửi phản hồi