Kỳ 1: Huyền thoại hai thế kỷ về kho báu Yamashita

Lẫn trong vô số những điều mù mờ, huyễn hoặc của những câu chuyện về các kho báu Nhật Bản chôn lại trên đất Việt nam vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ 2, chỉ có chữ “cuối cùng” mà ông Trần Phương Tiệp đã dùng tự nói về mình là cụ thể và chính xác. Bởi khi dự án núi Tàu bắt đầu đi vào hoạt động cuối tháng 8/2011 thì ông đã… 96 tuổi.

Từ những thông tin tình cờ biết, đốt bùng lên khao khát tìm kho báu

Ông Trần Phương Tiệp SN 1918 tại An Hải, Hải Phòng. Năm 1927, ông theo gia đình di cư vào Nam. Ban đầu, gia đình ông dừng chân tại Phan Thiết (Bình Thuận), sau đó tiến dần vào Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương). Năm 1939, vì muốn được cấp môn bài làm một tài xế lái xe chuyên nghiệp nên ông đã đổi tên thành Trần Văn Tiệp, khai tăng 3 tuổi, ghi năm sinh là 1915 và nhận quê quán tại Phan Thiết. Trước năm 1945, ông Tiệp sinh sống ở nhiều nơi, trải qua nhiều nghề.

Sau cách mạng tháng 8/1945, ông Tiệp tham gia kháng chiến chống Pháp tại Sài Gòn – Gia Định, hoạt động trong lực lượng “Mười ban tự vệ Công tác thành Sài Gòn – Gia Định”. Năm 1947, “Mười ban tự vệ công tác thành” hợp nhất lại thành Trung đoàn Phạm Hồng Thái, đơn vị biệt động đầu tiên của Sài Gòn – Gia Định. Do một cơ sở  nội thành bị vỡ và có sự chỉ điểm nên năm 1948, ông Tiệp bị mật thám Pháp bắt giam hai tháng.

Một số “báu vật” được cho là đã tìm thấy tại hố khai quật ở núi Tàu.

Không khai  nhận, không  có bằng chứng, ông được thả. Mất liên lạc với kháng chiến, ông trở lại đời sống của một dân thường, làm nghề lái xe buôn gỗ từ Gia lai, Đắc Lắc, Bình Dương về Sài Gòn. Sau 1954, ông trở thành nhà buôn kiêm khai thác, chế biến gỗ tại Bình Tuy. Tại đây, ông quen rồi hùn vốn với Năm Thuận và Lê Văn Bường (cựu tỉnh trưởng Bình Tuy từ năm 1957 – 1961). Nhờ đó, ông biết được thông tin về kho báu Nhật Bản cùng các cuộc tranh giành bí mật. Sau đó, ông thành người  săn lùng kho báu dai đẳng nhất.

Năm 1968, ông Tiệp chuyển sang làm nghề máy xay đá tại Tuyên Đức và từ năm 1971-1975 lại quay về làm trang trại tại Bình Tuy. Sau giải phóng, ông Tiệp làm tài xế tại Nông trường Quốc doanh cao su Dầu Tiếng; sau đó chuyển đến Công trường Giao thông số 1, TP.HCM rồi Nông trường Đông Hải, tỉnh Minh Hải…

Có kho báu đã được tìm thấy

Trong hiểu biết của ông Tiệp thì vào khoảng tháng 3/1945, Chiến tranh thế giới lần thứ II sắp kết thúc, trước viễn cảnh thảm bại buộc phải từ bỏ hết các vùng đất đang chiếm đóng ngoài chính quốc, quân đội Nhật Bản chủ trương vơ vét tất cả những bạc vàng châu báu và tài nguyên quý hiếm của nhiều nước bị chiếm đóng khu vực châu Á, Thái Bình Dương đưa xuống tàu chở về đảo quốc Phù Tang.

Người ta cho rằng sau khi đánh bại Anh ở Malaysia và Sigapore, Yamashita đã cướp bóc ở các nước ở Đông Á và Đông Nam Á một khối lượng vàng cực kỳ lớn, trị giá hàng tỷ USD. Ngòai ra Yamashita còn vơ vét hàng đống kim cương, cổ vật, những tượng Phật bằng vàng ròng nặng hàng tấn tại các đền chùa, ngân hàng, viện bảo tàng ở các nước châu Á mà Nhật chiếm đóng

Để đảm bảo an toàn cho số tài sản khổng lồ này, Yamashita đã cho vận chuyển đến Philippines, Singapore, Indonesia… chia ra nhiều địa điểm để cất giấu. Ngoài ra, một phần lớn trong số đó được Yamashita cùng thuộc hạ vận chuyển bằng tàu biển về Nhật. Tuy nhiên lúc đó bị máy bay quân đội Đồng Minh oanh kích nên số tàu chở báu vật được lệnh di chuyển vào một địa điểm bí mật ở ven biển Nam Trung bộ Việt Nam, nơi quân Nhật đang chiếm đóng để chôn giấu trên một ngọn đồi.

Ông Trần Phương Tiệp và hồ sơ kho báu núi tàu

Sau đó toàn bộ số tàu tham gia vận chuyển đều bị đánh đắm ở ven Biển Đông. Toàn bộ nhân công người bản xứ, thậm chí những đốc công người Việt và người Nhật tham gia chôn giấu kho báu đều bị thủ tiêu sau khi lấp miệng hầm. Bí mật của kho báu được giữ kín và chỉ có tướng Yamashita cùng một vài sĩ quan cao cấp trong quân đội Phát xít Nhật nắm giữ. Mỗi kho báu được lập một tấm bản đồ vị trí, không có bản sao, giao cho một sĩ quan  bí mật cất giữ.

Huyền thoại về “kho báu Yamshita” đã trở thành “cơn khát thời đại”, đẩy hàng ngàn, hàng vạn người giàu tham vọng ở các quốc gia Đông Nam Á vào những cuộc phiêu lưu, tìm kiếm và tranh giành khốc liệt. Cho đến nay, chỉ duy nhất gia đình cố Tổng thống Indonesia Ferdinand Marcos được ghi nhận đã từng tìm thấy một trong số những kho báu Nhật Bản. Giới truyền thông quốc tế đánh giá số bạc vàng châu báu tìm được này lên tới giá trị 3,2 tỷ USD!

Thực tế, ngay trước khi tuyên bố thiết quân luật ngày 21/9/1972, Tổng thống Marcos đã ra lệnh bí mật tuyển mộ một nhóm quân nhân đặc biệt tinh nhuệ vào một đơn vị bí mật được gọi là “Task Force Restoration”. Nhiệm vụ của đơn vị đặc biệt này là lùng tìm kho báu Yamashita trên một vùng rộng khắp quốc đảo Philippines, nhất là trong các vùng ven bờ biển do phe nổi dậy và ly khai chiếm giữ.

Thay vì được cấp vũ khí để chiến đấu, đơn vị “Task Force Restoration” lại được cung cấp… cuốc, xẻng, xe ủi, xe xúc, cần cẩu… Đêm 27/4/1973, trong khi đào xuống đến độ sâu 12m trên một khu đất rộng khoảng nửa hecta gần hồ Caliraya, cách thủ đô Manila vài kilômét về phía đông, họ đã tìm thấy 10 căn phòng bằng bêtông chứa các thùng thép và những kiện hàng bằng đồng. Trong các thùng và kiện hàng đó là vàng, đá quý và vô số báu vật khác (sau này được ước đoán có trị giá 590 triệu USD, thời giá năm 1973). Ngay sau đó, Tổng thống Marcos, tướng Fabian Ver, đại tá Ramon Cannu và đội cận vệ tổng thống đã xuất hiện trên một chiếc trực thăng. Đi theo họ còn có 4 người Nhật Bản lớn tuổi.

Đoàn kiểm tra tỉnh Bình Thuận khảo sát công trường kho báu núi Tàu năm 2000

Nhiều năm sau, bị cáo buộc đã tham nhũng ngân sách, đục khoét tài nguyên quốc gia làm giàu bất chính trong thời gian nắm quyền suốt 13 năm, gia đình Marcos đã biện bạch rằng đó là số của cải từ kho tàng mà quân Nhật chôn giấu đã được họ tìm ra. Không chỉ một kho báu từng được tìm thấy ở vùng hồ Caliraya, trên toàn đất nước, gia đình Marcos đã từng tìm được và chiếm hữu tới khoảng 30 kho báu lớn nhỏ như vậy. Lời biện bạch này không ngờ lại dấy lên một làn sóng phẫn nộ mới.

Hàng trăm quân nhân tại ngũ và đã phục viên từng trực tiếp tham gia đơn vị đặc nhiệm do Marcos lập ra tập hợp nhau lại thành một tổ chức có tên gọi “The Forgotten Claimants of Yamashita World War II Treasures Versus the Marcos Estate Inc” (Những người bị lãng quên đòi hỏi về kho báu Yamashhita trong Thế chiến II và chống lại tài sản của Marcos). Những năm cuối thế kỷ XX, chiến dịch đòi lại một phần trong số tài sản của Marcos của các cựu quân nhân Philippines vẫn sôi sùng sục.

Trước những thông tin về kho báu đã được gia đình Marcos tìm được, ông Tiệp từng cho biết: “So với kho báu mà tôi đang tìm, kho báu nhà Marcos đã chiếm được… chẳng là cái gì cả”.

Tất cả thông tin đều chỉ kho báu ở núi Tàu

Sau hiệp định Geneve năm 1954, ông Trần Phương Tiệp làm nghề khai thác và chế biến gỗ tại khu vực căn cứ 5, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy (nay thuộc Bình Thuận), chung vốn với một chủ xưởng là ông Năm Thuận (nguyên trung uý thông ngôn của quân đội Nhật). Ông ta đã phiên dịch cho Đô Đốc Yamashita, đại tá Io Yoshidavà một số quan  chức  tai to mặt lớn, tay chân thân tín người Việt về chuyện chôn giấu kho báu tại Bình Thuận. Từ năm Thuận, ông Tiệp được giới thiệu và quen biết với Lê Văn Bường (tỉnh trưởng Bình Tuy), cũng là một người hùn vốn khai thác, chế biến gỗ với Năm Thuận.

Theo Năm Thận, mục đích của sự hùn hạp là để hợp tác tìm kiếm các kho báu của Nhật chôn giấu. Kho báu Yamshita trên đất Việt Nam được chôn giấu ở 3 nơi: Núi Lớn (Vũng Tàu), núi Tàu (huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận) và “kho báu thứ 3” nằm ở rừng núi giữa hai xã Suối Kiết và Sông Phan (huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy). Vì là bạn làm ăn thân thiết, Năm Thuận đã tiết lộ với ông Tiệp chuyện kho báu và không ngần ngại trả lời mỗi khi ông Tiệp có thắc mắc.

Làm ăn ở Bình Tuy, Bình Thuận nhưng nhà riêng của ông Tiệp vẫn ở Sài Gòn. Tại Phú Nhuận, hiện mang địa chỉ 91/22/8 Nguyễn Trọng Tuyển, ngôi nhà được ông xây thành… ngôi chùa to mang tên Đông Quang Tự thay cho từ đường. Trong số những người thỉnh thoảng vẫn đến lễ tại đây có một người quen thân với ông Tiệp, tên Đức Hạnh. Bà Hạnh lấy chồng là sĩ quan Nhật Bản.

Sau đảo chính năm 1963, bà từng bị chính quyền Sài Gòn bắt, tra khảo về  chuyện kho báu Yamashita. Biết chuyện, ông tiệp đã tìm đủ cách dò hỏi. Bà Hạnh thật sự không biết chi tiết. Nhưng bà khẳng định, chính tay bà từng tham gia gói những thỏi vàng lớn vào giấy dầu màu xanh rêu cho người Nhật chở đi. Chuyến di chuyển vàng mà bà biết gồm 6 xe Nihon, chồng bà là người chỉ huy. Bà không được đi theo, nhưng chồng bà có cho biết là vừa trở về từ chuyến công tác dài gần 3 tuần lễ tại núi Tàu, Tuy Phong, Bình Thuận.

Tìm hiểu, rồi ra tận nơi khảo sát, ông Tiệp biết nơi mà các tài liệu kho báu Yamshita khác nhau đều dẫn tới là một ngọn núi Tàu khá thấp nhưng lởm chởm đá, nằm ngay bên quốc lộ 1A (sau này đối diện với cổng nhà máy nước suối Vĩnh Hảo). Mặt đông của núi hướng ra biển, nơi có hòn Lao Câu nằm cách bờ khoảng 4 hải lý. Năm 1945, từng có một tàu chở hàng của Nhật bị bom Đồng Minh đánh đắm tại đây.

Tháng 3/1971, thượng nghị sĩ kiêm tỷ phú Hoàng Kim Quy đã dẫn đầu một đoàn cả dân sự lẫn quân sự nhiều lần dùng trực thăng đổ người xuống đào xới, thăm dò trên đỉnh núi Tàu. Dẫn đường cho những chuyến thăm dò là một tay trung đội trưởng bảo an người địa phương. Bố của ông này trước năm 1945 là  công nhân gác ghi của Đề pô xe lửa Vĩnh Hảo, cách  núi Tàu không xa lắm.

Ông đã phát hiện, suốt 18  đêm liền, quân Nhật phong toả chặt núi Tàu và chuyển lên đó rất nhiều những thùng nặng. Suốt 18 đêm đó, đỉnh núi luôn sáng choang ánh điện. Tò mò, sau này người công nhân này đã nhiều lần đưa con trai bí mật lên núi Tàu thám thính nhưng không phát hiện được điều gì. Đến lượt  người trung đội trưởng bảo an này cũng nhiều lần dẫn con trai là Trương Văn Ánh (SN 1956) nhiều lần lên đỉnh núi. Nhưng trên đỉnh núi chỉ toàn đất đá và những búi cây còi cọc không có gì khả nghi. Dù vậy sau những chuyến khảo sát  năm 1971, thượng nghĩ sĩ Hoàng Kim Quy đã cho đổ cọc bê tông đánh dấu một số vị trí phía sườn Đông Nam của núi Tàu.

Muốn giữ kho báu cho quốc gia

Tin  chắc  mình đã nắm  đầy đủ bí mật về một kho báu khổng lồ nhưng ông Tiệp không định đuổi theo chuyện tìm kiếm làm của riêng ông. Trong thâm tâm, ông luôn cho rằng, nếu có kho báu thật thì đó chính là tài sản của quốc gia, cần phải giữ gìn nó để trả về cho quốc gia. Sau chuyến khảo sát tìm kho báu tại núi Tàu năm 1971 của thượng nghị sĩ Hoàng Kim Quy, ông Tiệp cảm thấy cần phải làm gì đó ngăn cản, giữ kho báu giao cho Cách mạng, chờ đất nước thống nhất để khai thác.

Sau ngày bị mất liên lạc với những đồng đội trong đơn vị kháng chiến cũ cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, ông Tiệp không trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng nhưng ít nhiều cũng có cảm tình với kháng chiến, có nhiều hành động bí mật giúp đỡ Cách mạng. Những năm đánh Mỹ, ông trở  thành cơ sở cảm tình của bà Đinh Thị Dậu, một cán bộ trí vận trong nội thành Sài Gòn.

Theo bản tường trình chi tiết dài 4 trang viết tay đề ngày 8/8/1986 của trung tá Hoàng Việt (nguyên Trưởng Ban quân pháp, Bộ chỉ huy quân sự TP. Hồ Chí Minh) thì từ năm 1971, ông Trần Văn Tiệp đã báo cáo toàn bộ chuyện kho báu với Cách mạng. Trung tá Hoàng Việt là con trai bà Đinh Thị Dậu. Khi viết bản tường trình này, ông Việt đã nghỉ hưu, sống tại 139, Tô Hiến Thành, Q.10. Ông Việt viết tường trình theo yêu cầu của đại tá Hồ Tấn Đắc, một cán bộ cao cấp của Bộ Quốc Phòng, người có trách nhiệm liên quan trong một số chuyến khảo sát của Bộ Quốc phòng về “kho báu Nhật Bản”.

Trong bản tường trình, trung tá Hoàng Việt cho biết, năm 1971, bà Đinh Thị Dậu đã bí mật lên tận căn cứ tại Củ Chi, đề đạt nguyện vọng của ông Trần Phương Tiệp muốn gặp phía Cách mạng để trao lại toàn bộ bí mật kho báu Yamshita tại núi Tàu. Việc này, ông Hoàng Việt đã báo cáo lại với Bộ Chỉ huy quân khu Sài Gòn – Gia Định.

Được chấp thuận, bà Đinh Thị Dậu đã dẫn ông Tiệp và ông Phúc (một cơ sở nội thành khác của ban trí vận) ra chiến khu gặp ông Hoàng Việt. Tại  đây, toàn bộ bí mật liên quan đến kho báu – khá mơ hồ – ông Tiệp đã trình bày hết. Sau đó, qua đường giao liên của bà Dậu, một tấm bản đồ, 4 tấm ảnh địa hình và một số tài liệu khác về kho báu núi Tàu đã được chuyển ra chiến khu. Tất cả đều được ông Hoàng Việt tiếp nhận, báo cáo và nộp lại đầy đủ cho Bộ chỉ huy quân khu Sài Gòn – Gia Định và sau này là Bộ chỉ huy Quân sự Quân khu 7. Do công việc thời chiến bộn bề, mọi việc chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhận.

Sau ngày giải phóng đúng một tuần, ông Tiệp và ông Phúc lại trực tiếp đến nhà bà Dậu để gặp trung tá Hoàng Việt, nhắc lại chuyện kho báu. Công tác sau chiến tranh quá bận rộn nên phải gần 10 năm sau (năm 1984), một số đơn vị  thuộc Bộ Quốc Phòng và tỉnh Thuận Hải mới bắt đầu vào cuộc khảo sát, thăm dò, xác minh thực hư chuyện kho báu trên cơ sở những báo cáo của ông Tiệp.

Sau nhiều đợt khảo sát bằng máy dò cạn Forstep TYP 4051, ngày 31/8/1986, nhóm chuyên viên Bộ Quiốc Phòng đã có “phúc trình về kết quả dò bom” trên  núi Tàu, có nội dung: “Có một khối lượng lớn với diện tích nhiễm từ xấp xỉ 1200m2. Tại sườn chi ều cao theo hướng Đông, Đông Nam và hướng Nam có dấu vết rạn nứt… nghi là hướng cửa hầm”.

Những chuyến khảo sát rải rác trong nhiều năm không đem lại kết quả đã khiến các đơn vị Nhà nước và Bộ Quốc phòng nhạt dần chuyện kho báu. Thực tế này khiến ông Tiệp sốt ruột, liên tục làm đơn trình bày gửi các cấp cấp, gặp  gỡ nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan để hối thúc, đề nghị đẩy nhanh việc tìm kiếm kho báu “trước khi nó lọt vào tay kẻ xấu”.

Mỗi lần đưa đơn đi, ông lại bổ sung thêm một vài cứ liệu mà ông đinh ninh là “chứng cứ xác thực”. Đáng tiếc, những chứng cứ rất có sức nặng với cá nhân ông lại quá nhẹ để các cơ quan Nhà nước đổ thời gian, tiền bạc vào giải quyết. Người ta khuyên ông: “Nếu Nhà nước không làm, tại sao ông không tự đứng ra xin giấy phép tìm kiếm?”

Ông Tiệp cho là phải. Bắt đầu từ tháng 7/1986, ông hợp đồng với Quân khu 7 làm kinh tế mà chủ yếu là tìm kiếm các kho vũ khí của Nhật tại Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận. Năm 1990, ông Tiệp gởi nhiều báo cáo đến các cấp chính quyền để trình báo về các kho báu tại Bình Gĩa (Bà Rịa – Vũng Tàu), núi Tàu (Bình Thuận). Cũng trong thời gian trên, ông Tiệp đã đích thân đến núi Tàu để khảo sát thăm dò.

Ngày 25/7/1992, ông Tiệp gửi đơn đến UBND tỉnh Bình Thuận xin phép khai quật kho báu. Kèm theo đơn là Công văn của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng trả lời cho ông Tiệp. Công văn này nhấn mạnh: “Những công việc này có liên quan đến nhà cửa, các địa điểm an ninh quốc phòng, do đó phải do UBND tỉnh xem xét. Ngoài ra phải có tường trình của những người biết việc, bản phương án thăm dò, khai thác…”.

Kỳ tới: Cơn khát núi Tàu

THANH TRÚC – PHƯƠNG NAM

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here