Ngôi nhà bị đồn đại là “ma ám” của gia đình bà Nở

Kỳ 7: Bùa quốc nội và bùa quốc tế “song kiếm hợp bích” tại ngôi nhà có 10 người điên

Nơi người sống lẫn với “ma quỷ”

Cuộc đời bà Nguyễn Thị Nở (SN 1945, trú tại ngõ 239, đường Đà Nẵng, Hải Phòng) đúng là tận khổ. 10 người con của bà Nở lần lượt đều phát bệnh tâm thần mà Sự khốn còn nằm ở chỗ: Bà không biết tại sao các con bị điên! Không có lời giải thích nào, bà đành chấp nhận lý giải rằng ngôi nhà bà đang ở toàn ma.

Từ năm 1965 đến 1983, bà Nở 10 lần sinh nở, đẻ được 7 gái 3 trai. Các con của bà đều xinh đẹp, trắng trẻo phổng phao. Có điều, cứ đến tầm 20 tuổi, các con của bà Nở phát điên cả. Trong đó, Phạm Thị Thái (SN 1965), Phạm Thị Dung (SN 1971) và Phạm Thị Cúc (SN 1973) phát bệnh tâm thần bỏ nhà đi đâu không rõ. Phạm Thị Lan (SN 1968), Phạm Thị Tâm (SN 1969) và Phạm Thị Hoa (SN 1976) đều phát bệnh rồi dại.

Bà Nở hiện nay sống với người con gái nửa điên nửa tỉnh

Ba người con trai Phạm Văn Hoàng (SN 1977), Phạm Văn Đức (SN 1978), Phạm Văn Hậu (SN 1979) cũng không tránh khỏi thảm kịch. Hiện tại, anh Hoàng đang được điều trị tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng. Anh Đức đã chết. Còn anh Hậu sau khi hồi phục bệnh điên đã bỏ đi, ở đâu đó trong miền Nam. Người con cuối cùng, chị Phạm Thị Bích (SN 1983), may mắn quá, chỉ “điên một nửa”, nghĩa là lúc tỉnh lúc mê. Chị hiện đang sống với bà Nở tại ngôi nhà rách nát.

Bà Nở và những người hàng xóm khác của bà Nở đều bị hù dọa bởi tin đồn liên quan đến “đoàn quân ma quỷ” chui rúc trong nhà bà Nở. Bởi trong 10 năm qua, bất cứ thầy cúng nào – kể cả sư ông nổi tiếng, thầy bùa trứ danh, cô đồng quyền phép – đều khẳng định, nhà bà Nở có ma. Mà, bà Nở cũng khẳng định, nhà ngôi nhà của bà có ma.

Bà Nở phải đọc thần chú mỗi ngày

Bà kể, đêm đêm, bà nghe thấy những tiếng lục cục ở gầm giường, giống như thây ma đục đất chui lên. Lũ ma quái ấy toàn bọn ô hợp, có đủ màu da. Chúng tề tập với nhau tại đây như thể ngôi nhà bà là bãi chiến trường, hay là huyệt động tập thể của vong linh. Quái lạ thay, con ma nào cũng nhận đây là nhà chúng, nên chúng kiên quyết không rời đi, mà chỉ “hành” cho các con bà Nở điêu đứng, điên loạn.

Bà Nở thì thào như sợ đám ma quỷ nghe tiếng: “Nhiều lần tôi gặp ma trong mơ, họ đòi tôi không được thì họ quay qua dọa tôi. Tôi nhớ hôm đó có một người mặc áo trắng, nhưng da thì đen xì quát vào mặt tôi: “Nếu bà không trả lại nhà cho tôi, thì tôi sẽ làm cho các con bà phát điên, rồi từ từ mà chết”.

Thần chú của ông thầy pháp người Hàn Quốc

Quá sợ hãi, tôi giật mình tỉnh dậy thì biết mình nằm mơ. Rồi tôi lại thiếp đi lúc nào không biết. Sau đó tôi lại thấy người đàn ông lúc trước cứ nắm tóc tôi đuổi tôi ra khỏi nhà. Tôi sợ hãi khóc thét lên, thì người đàn ông này lại dùng tay chọc mạnh vào mạng sườn làm tôi đau đớn… Sau giấc mơ ấy, cái Lan rồi đến Tâm, Dung, Đức… cho tới đứa cuối cùng là con Bích, cứ chừng tuổi đôi mươi là chúng nó giở chứng nói cười lảm nhảm. Nhiều đứa điên khùng cởi quần áo đi khắp xóm nữa”.

Bùa “quốc nội” kết hợp bùa “quốc tế” để đuổi “ma quỷ”

Vì tin rằng các con bị ma ám đến phát điên, trong 10 năm, bà Nở cậy nhờ khắp các thầy pháp sư để mong cứu các con. Bà tiết lộ: “Lũ ma trong nhà này khủng khiếp vô cùng, đến mức mấy ông thầy đấu với bọn nó đều đã bỏ mạng. Có ông thì chạy mất mật. Hiện nay, tôi chỉ còn biết trông mong vào ông thầy người Hàn Quốc. Đây, ông ấy trấn yểm bốn xung quanh nhà tôi thế này cơ mà. Biết đâu, thầy quốc tế sẽ có uy với lũ ma tà hơn thầy nội địa”.

Trên bốn bức tường vôi tróc lở, có thể dễ dàng nhìn thấy những câu thần chú khó hiểu dán thẳng thớm, lần lượt là “agata”, “sa tát ru”, “chu ta ba” và “sa tu ma ni”. Bà Nở giảng giải: “Đây là những câu thần chú mà ông thầy người Hàn Quốc bảo tôi phải đọc hàng ngày. Ông ấy bảo làm như thế sẽ ngăn bọn ma tà quấy nhiễu, thậm chí có thể khiến chúng sợ hãi mà rời khỏi mảnh đất này. Ông ấy lấy chính bản thân làm ví dụ để minh chứng cho sự thần diệu của những câu thần chú ấy.

Bà Nở đau đớn kể về những người con phát điên

Theo như ông ấy kể, tất nhiên là thông qua người phiên dịch, ông ấy vốn bị điên từ bé. Điên kinh khủng, đến mức đánh lại cha mẹ, rồi bỏ nhà đi lang thang. Ông ấy đi từ thành phố đến nông thôn, phiêu dạt tới miền biển. Không biết trời xui đất khiến thế nào, ông ấy trèo lên một con tàu đánh cá và ra khơi. Khi những người trên tàu phát hiện ra ông ấy nửa điên nửa khùng, họ đã vứt ông ấy trên một đảo hoang. Cũng chính nhờ cơ duyên, ông ấy đã gặp một vị cao nhân chữa cho khỏi bệnh điên và còn truyền cho đạo pháp tinh thâm, bắt quỷ hàng ma”.

Bản thân bà Nở không biết làm thế nào mà ông thầy bắt ma người Hàn Quốc nắm được tình cảnh của gia đình bà, rồi vượt đại dương đến ngôi nhà u ám trên đường Đà Nẵng của bà Nở để “bắt ma”. Bà Nở chỉ biết rằng, ông thầy xuất hiện chừng hơn một năm trước, xì xà xì xồ gì đó với người phiên dịch, rồi trải tấm vải đỏ ra giữa nhà, bày đồ tế lễ, hương hoa nghi ngút, một tay cầm kiếm gỗ, một tay cầm đạo bùa màu vàng có các nét bút loằng ngoằng. Ông thầy xì xụp làm lễ suốt cả một ngày, sau đó mới dán bốn câu thần chú vào các bức tường quanh nhà bà Nở.

Ông Nguyễn Xuân Trường (hàng xóm nhà bà Nở) kể: “Gần chục năm trước, bà Nở mời sư thầy nổi tiếng nhất Hải Phòng là sư Thích Quảng N. đến để trục vong, bắt ma. Đất Hải Phòng này, không ai là không biết thầy N. cực kỳ giỏi, có thể đánh đồng thiếp xuống âm giới như đi chợ. Thầy N. mang theo một con lắc, một cục thạch anh và hàng tá con nhang đệ tử đến nhà bà Nở.

Tấm bùa mà pháp sư đưa cho bà Nở để trừ ma

Hồi đó, đám con điên khùng của bà Nở vẫn ở nhà. Thầy N. bắt từng đứa ngồi thẳng lưng. Tay trái của ông đặt lên đỉnh đầu, tay phải quay con lắc nhanh dần, rồi tít mù trên mặt chiếc hộp bát giác. Cứ vừa quay con lắc, ông vừa bảo: “Có vong, có ma”. Rồi ông cầm cục thạch anh đặt lên đỉnh đầu mấy đứa, tiếp tục quay tít con lắc trên mặt hộp bát giác. Ông ấn cục đó vào vai phải, vai trái, sau lưng, phía trên ngực trái.

Khi ông đặt cục ấy vào bụng, mấy đứa con bà Nở hét lên sợ hãi. Thầy N. liên tục niệm chú, mắt ông trợn trừng dữ tợn, mặt đỏ rực, trán lấm tấm mồ hôi. Ông làm như vậy với lần lượt từng đứa một. Đám con của bà Nở sợ hãi co rúm cả người, hét lên đau đớn. Đôi mắt của chúng nó trắng dã, cứ như không là con người nữa”.

Sau lần “bắt ma” hoành tráng ấy, những tưởng đàn con bà Nở sẽ tỉnh táo trở lại, song chuyện tốt đẹp ấy đã không xảy ra. Sư N. không trở lại ngôi nhà lúp xúp của bà Nở nữa. Sau đó, xuất hiện 8 vị tăng nhân áo bà vàng từ đâu không rõ. Tám vị cao tăng ngồi khoanh tròn giữa nhà, trải sách ra.

Tiếng mõ, tiếng chuông vang lên coong coong. Tiếng đọc kinh râm ran cả buổi chiều. Đọc kinh xong, vị cao tăng khuyên bà Nở nên năng đi chùa, cầu kinh, kêu trời kêu Phật để tinh thần thanh thản, sẵn sàng đối mặt với hiện tại, chứ không có cách nào vượt qua được kiếp nạn khủng khiếp này. Nghĩa là, các vị cũng không có cách gì.

Người hàng xóm của bà Nở kể: “Rồi lại có một cô đồng ở chợ Con (Hải Phòng) tìm đến giúp đỡ. Cô này bốc 3 bát hương, 2 bát để trong nhà, 1 bát ngoài sân. Cô này làm 2 mâm lễ, một để ngoài trời, một để trong nhà rồi cúng bái khá lâu. Cô này bắt bà Nở chuyển bếp ra chỗ khác, không được đun ở chỗ góc nhà.

Vì theo cô, phía dưới có người chết. Việc đun bếp trên đầu người chết là rất kỵ. Cô này cũng không cho để xoong nồi trong nhà. Vì theo cô, trong nhà cũng có rất nhiều ma. Nhà bà Nở lại thêm một lần loạn lên, đảo xới lung tung, ấy vậy mà đâu vẫn vào đấy, con bà ấy vẫn điên”.

Đến bây giờ, người dân ở xung quanh nhà bà Nở quá chán chường với tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng tùng cắc… của các thầy bắt ma. Những bóng áo nâu, áo vàng, áo cô đồng sặc sỡ càng làm họ thêm ghét bỏ. “Ma thì tôi chưa thấy mặt, thấy hình, nhưng thầy bắt ma lại quá nhiều. Đôi khi, tôi còn chẳng phân biệt được đâu là ma, đâu là thầy bắt ma. Hay, họ đều là ma?”, ông Trường bày tỏ.

(Còn tiếp)

Hoài Sơn

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here