Cậu Hai trong một lần ra Bến Hải cầu nguyện cùng đệ tử.

Kỳ 3: Lời “tự thú” được vua Minh Mạng tái sinh và những chiêu quảng cáo độc đáo của “thánh địa” Đạo Dừa

Cậu Hai được vua Minh Mạng tái sinh?

Từ khi dời điểm hành đạo về cồn Phụng, cậu Hai khuếch trương hình ảnh của mình khá độc đáo. Cậu Hai chọn khoảng thời gian từ 6 -13h, là thời điểm đông khách qua lại trên phà Rạch Miễu để nhiều người nhìn thấy ông tu. Trong 7 tiếng đồng hồ này cậu Hai ngồi kiết già trên chiếc ghế bành kê phía sau đuôi thuyền Bát nhã, mắt lim dim. Lịch tiếp khách của cậu Hai từ 13 – 18h, nhưng nếu bất ngờ có khách vãng lai đến cậu Hai cũng đón tiếp.

Vì tịnh khẩu nên mỗi khi tiếp khách, bên cạnh cậu Hai luôn túc trực một ông “đạo thông ngôn”. Khách hỏi cậu Hai chỉ ra dấu trả lời. Thường thì cậu Hai chỉ làm vài động tác cho tất cả mọi câu hỏi nhưng ông “đạo thông ngôn” hiểu hết! Có đôi lúc ông “đạo thông ngôn” diễn đạt chưa hết ý của mình, cậu Hai xé vội tờ giấy viết ra cho khách hiểu. Trong Đạo Dừa của cậu Hai, người nam gọi là “đạo”, còn nữ gọi là “diệu”.

Có lần, trong lúc tiếp ký giả của nhật báo Tin Sáng từ Sài Gòn xuống tìm hiểu “thánh địa” Đạo Dừa, cậu Hai ngồi chễm chệ trên chiếc ghế bành tiếp chuyện, bất ngờ cậu Hai nói mình được vua Minh Mạng tái sinh. Trước đó có nhiều đệ tử cúng dường, tiền bạc rủng rẻng, cậu Hai thuê thợ mộc đóng một chiếc ngai vua sơn màu vàng kim. Chiếc ngai đặt giữa cặp ngà voi cao 2,3 mét, nặng 60 kg, đường kính 43cm. Cặp ngà voi này đến nay vẫn được cho là lớn nhất Việt Nam và hiện còn trưng bày tại khu du lịch cồn Phụng. Cậu đặt tên chiếc ghế là “ngai vua mọc ngà”.

Cạnh bên chỗ cậu Hai ngồi “tu” là một cái bàn đầy ắp ngũ cốc, trái cây cùng với những nồi, tô, rổ rá và một cái cân. Ngũ cốc trước khi chế biến thì được các đệ tử luộc chín bằng nước dừa. Cậu Hai vừa ngồi kiết già vừa tự tay cắt, gọt từng thứ để chế biến mỗi ngày đủ 1,2 kg thức ăn hoặc uống để nuôi cơ thể có trọng lượng 36 kg của mình.

Ngoài thời khoá biểu về ăn uống, tiếp khách, “lịch tu” của cậu Hai cũng được các đạo, diệu răm rắp thực hiện. Từ 6 – 7h tối, các đạo, diệu cầu nguyện tại hội trường Hoà Bình, còn cậu Hai ngồi tịnh khẩu trên “đỉnh núi Thất Sơn” nhân tạo, phía dưới là Cửu trùng đài. Trước đó ít phút cậu Hai di chuyển từ thuyền Bát nhã lên bằng một cây cầu đặc biệt dài 52 mét có tên “đại cầu Hòa  – Cộng”.

Mỗi khi có người hỏi thì cậu Hai giải thích đó là bản sao của cầu Hiền Lương, nối liền hai miền Nam – Bắc. Trước khi lên “đỉnh núi Thất Sơn”, cậu Hai không quên dừng lại nơi quả địa cầu rồi đưa tay quay 3 vòng. Cậu Hai giải thích hành động này là “sứ mệnh thiên định nhằm đem lại hoà bình cho thế giới”.

Từ 7h tối trở đi, cậu Hai leo lên “tam giác đài” – tượng trưng cho miền Bắc, ngủ ngồi cho đến 11h khuya. Sau đó cậu Hai từ “tam giác đài” băng qua “đại cầu Hòa – Cộng” tới “Bát quái đài” –  tượng trưng cho miền Nam. Tại “miền Nam”, cậu Hai gióng một hồi chuông để khởi đầu cho buổi cầu nguyện giữa đêm cùng với hơn 500 đệ tử đang quỳ mọp phía dưới nguyện đường. Xong buổi cầu nguyện này, cậu Hai rời « miền Nam », trở lại « miền Bắc » viết lách cho đến 5h sáng hôm sau.

Cậu soạn thảo kế hoạch vận động tranh cử Tổng thống Việt Nam cộng hòa, chương trình điều hành chùa Nam Quốc Phật, kiểm tra sổ sách thu chi… Đến 6h cậu Hai sửa soạn bữa ăn uống thường nhật.

Trong khi đó các đạo, diệu mỗi ngày phải quỳ cầu nguyện giữa trời 4 tiếng đồng hồ, chia làm 4 thời: sáng, trưa, chiều và khuya. Trước mỗi thời chừng 20 phút có loa phóng thanh từ chùa Nam Quốc Phật nhắc nhở các đệ tử tới nguyện đường. Trong lúc chuẩn bị, chùa còn cho phát thanh những tin tức, bài báo mang tính thời sự của cuộc chiến, hoặc có liên quan đến hoạt động của chùa Nam Quốc Phật.

Trước khi cầu nguyện, đạo, diệu đưa tay làm dấu thánh theo đạo Thiên chúa giáo, sau đó chấp tay theo đạo Phật. Kinh cầu nguyện do chính cậu Hai soạn, được cho là cầu nguyện để có hòa bình thống nhất chứ không mang ý nghĩa gì khác. Chủ trương của Đạo Dừa là hòa hợp tôn giáo nên những lời kinh đều mang màu sắc của hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Mở đầu và kết thúc mỗi thời cầu nguyện đều có nội dung: “Nam mô Phật – Chúa chứng minh. Amen! Nam Mô A Di Đà Phật, Chúa – Phật, bà Quán Thế Âm Bồ Tát, Đức mẹ Maria chứng minh. Amen!”.

Ngoài thời gian cầu nguyện bắt buộc, các đạo, diệu được chia thành nhiều ban làm việc gọi là làm “công quả”: Ban hành chánh kiểm soát, chụp ảnh, đưa đò, làm rẫy, làm ruộng, đi chợ, liên lạc, quét dọn, tiếp tân, ấn loát… với hơn 500 con người lúc nào cũng cúc cung tận tụy cậu Hai, trong đó có bà Lê Thị Sen – mẹ của cậu Hai cũng trở thành đệ tử của Đạo Dừa.

Nhiều người tự hỏi tiền bạc đâu mà cậu Hai nuôi sống cả một “giang sơn” to lớn với chừng ấy con người ở cồn Phụng?

Qua tìm hiểu, “giang sơn” cồn Phụng của cậu Hai khi ấy có hai khu vực gọi là Xóm trường trai và chùa Nam Quốc Phật. Các đạo, diệu sống với gia đình ăn, ở tại xóm trường trai. Còn các đạo, diệu sống một mình ăn, ở tại chùa Nam Quốc Phật. Chỉ có đạo, diệu ở xa, hoặc nhà nghèo mới ăn nhờ của chùa, còn những gia đình khá giả họ tự lo ăn uống nhưng toàn chay lạc.

Cặp ngà voi được cho là lớn nhất Việt Nam

Theo một bảng tổng kết được diệu Bùi Thị Cư, tổng viện tài chính của cậu Hai thực hiện vào ngày 1/11/1971, với con dấu và chữ ký kiến thị của đạo Ngô Văn Mỹ và Trần Văn Tây, thuộc Hội đồng trị sự chùa Nam Quốc Phật, cho thấy mỗi tuần cậu Hai chi cho các ban sinh hoạt ở đây hết 68.881 đồng, trong khi thâu vào từ hoa lợi, đò máy, chụp hình, cúng dường… lên đến gần 80.000 đồng/tuần!

Trong số hơn 500 đạo, diệu ở đây, có hơn 100 miệng ăn tại chùa cùng với hàng loạt chi phí khác như, chi mua dầu máy phát điện, đò máy, in ấn, tiếp khách… mà chỉ tốn 68.881 đồng, tính ra bình quân mỗi người xài khoảng 90 đồng bạc/ngày, chưa bằng giá gói thuốc Salem khi đó. Quả là đúng với chủ trương khắc khổ kiểu Đạo Dừa!

Thánh địa” Đạo Dừa từng trở thành “đại khám đường”

Cậu Hai từng bảo, Đài bát quái là tượng trưng cho qui luật tuần hoàn của vạn vật, hết trị thì tới loạn. Đây là thời buổi loạn lạc khổ sở đến cùng cực, phải cần đến đạo đức tinh thần. Do đó, cậu Hai ngồi trên đài bát quái là để đợi luật tuần hoàn tới trao thiên mệnh để cứu nhân loại. Còn việc để chỏm tóc trên đỉnh đầu hơi khác lạ, nhưng mỗi khi có ai thắc mắc cậu Hai ngạo mạn trả lời: Nhà tăng thì cạo trọc, còn đạo sĩ để tóc. Cậu Hai cạo tóc chung quanh chừa chỏm tóc trên đỉnh đầu ấy là muốn dung hòa gữa hai đạo Phật và Lão.

Trong khoảng thời gian Ngô Đình Diệm thực thi kế sách ấp chiến lược thì tại “thánh địa” Đạo Dừa có lúc thu hút trên 500 đệ tử, có cả đệ tử người ngoại quốc và đa số là những người còn trẻ đến ở hẳn nơi cồn Phụng. Hàng năm cậu Hai đứng tên cùng tu sĩ Huỳnh Ngọc Ấn – chủ tịch Hội đồng cố vấn chùa Nam Quốc Phật, xin hoãn cho các đệ tử tới tuổi quân dịch. Chính quyền Sài Gòn lúc đó nói Đạo Dừa không có giấy phép nên chỉ chấp nhận cho 25 ông đạo được hoãn dịch. Các đạo không có giấy hoãn dịch chỉ có thể quanh quẩn trên cồn Phụng chứ không dám ra ngoài.

Khi được hỏi tại sao không xin phép chính quyền hợp thức hóa để dễ điều hành chùa Nam Quốc Phật và phổ biến đạo pháp sâu rộng trong quần chúng? Cậu Hai nói, cậu mong mỏi được hai bên sớm chấp thuận cho cậu đứng ra làm trung gian hòa giải, đem lại hòa bình cho dân tộc. Cậu Hai không quan niệm làm công việc đạo hạnh, cầu nguyện hoà bình là phải xin phép. Ngày trước Chúa Giê Su và Phật Thích ca đâu có xin phép ai để đi giảng đạo?”

Sau đó chính quyền tỉnh Kiến Hòa tổ chức “bố ráp”, “tóm” một số đệ tử của cậu Hai vì lý do trốn quân dịch. Thế là một cách ôn hòa và độc đáo, cậu Hai biến “thánh địa” Đạo Dừa thành “đại khám đường” giam giữ hơn 500 tù nhân. Ngày 7/12/1971, cậu Hai xuống lệnh cho vẽ trên lưng áo của các đệ tử hai chữ “tu tù”, bên dưới đánh số thứ tự màu trắng. Ý của cậu Hai là kể từ nay “thánh địa” Đạo Dừa trở thành “đại khám đường”, chính quyền đừng đến bắt bớ nữa. Bắt bớ làm gì cho vô ích, nuôi tốn cơm, ở tốn chỗ, vì ở đây họ cũng đã là tù nhân rồi.

Cao Thục Đoan

Gửi phản hồi