Một góc núi Thái Sơn

Kỳ 2: Những công trình kiến trúc “thập cẩm” của Thiên nhơn giáo chủ Thích Hòa Bình

Bị cấm khẩu sau hai lần lên núi

Sau khi chia tay ông thầy tướng số ở ngã ba đường, cậu Hai đi một mạch lên núi Tượng khuất dạng theo bóng chiều tà. Trên đỉnh núi ngoài An Sơn Tự còn có con voi đá phủ phục không ai biết có tự khi nào. Lúc này vào khoảng thượng tuần tháng 3, vùng này đang vào cao điểm mùa khô nên chung quanh núi đồi xác xơ trơ trọi.

Núi Tượng còn có tên là Liên Hoa Sơn, một trong 7 ngọn núi chính nằm trong dãy Thất Sơn mầu nhiệm. Trụ trì An Sơn Tự trên núi lúc ấy là hòa thượng Thích Hồng Tôi đã ngoài 70 tuổi – một vị chân sư được đồng đạo trong vùng kính trọng. Ngoài hoà thượng, chùa còn có khoảng mười tăng ni phật tử ngày đêm phụng sự phật pháp. Hôm ấy, cậu Hai là vị khách lạ duy nhất nên được hòa thượng tiếp đãi ân cần.

Con bạch tượng được cho là đang hôn lên tay cậu Hai

Sau mấy ngày lưu lại vãn cảnh, cậu Hai ngỏ ý xin ở lại chùa quy y phật pháp. Khi được hỏi lý do muốn đi tu, cậu Hai trả lời rằng: “Mọi việc trên thế gian đâu có chi là trường cửu. Chỉ có đạo đức mới trường tồn. Mọi người rồi cuối cùng cũng gửi thân vào lòng đất lạnh, vì lẽ đó con muốn đến với đạo, tìm lối thoát cho mình”.

Nghe những lời của cậu Hai, hòa thượng xúc động nói: “Con còn trẻ mà ngộ ra như vậy là tốt. Nhưng người muốn xuất gia phải hội đủ ít nhất 5 điều kiện: được sự đồng ý của cha mẹ và vợ, con (nếu có) phải bằng lòng; không bị thưa kiện; không bị ma quỷ nhập xác; không tham gia cơ quan chính trị – quân sự. Con có đáp ứng được không?”.

Cậu Hai khẳng định là có thể đáp ứng được, và cũng thú thật là cậu đã có vợ con nhưng chưa hỏi qua ý kiến. Hòa thượng yêu cầu cậu Hai hãy tự thu xếp, chưa dứt được nợ duyên, nên nhà chùa không dám nhận. Cậu Hai nghe giảng giải một chập về cái lý đạo duyên, lấy làm tâm phục.

Sáng sớm hôm sau, khi sương mù còn ướt đẫm lối đi, cậu Hai từ giã hòa thượng ra về. Thay cho bước chân đưa tiễn, hòa thượng căn dặn: “Ngoài năm điều, người xuất gia còn phải tập tâm từ bi nhân đức, biết thương yêu giúp đỡ đồng loại, không tham, sân, si, tự cao, …còn phải giữ mình đúng giới luật của người xuất gia. Dẫu biết rằng lòng từ tâm của con sẵn có nhưng, nghiệp trần còn đa mang, con nên về sống với gia đình cho duyên nghiệp mãn phần rồi lên đây cũng không muộn.

Và, con cũng nên nhớ việc tu hành là một quá trình dài vô hạn định, phải trải qua nhiều kiếp nhiều đời mới mong ngộ thông chân lý”. Nghe vậy cậu Hai đành cúi đầu cảm tạ mà không dám nói gì thêm.

Khoảng năm 1943, cậu Hai trở về nhà sống với vợ con, không lâu sau thì dựng một cái am cách nhà chừng 500 thước để lánh đời. Người dân trong làng không ngớt lời bàn tán xôn xao, thêu dệt đủ thứ chuyện.

Một hôm cậu Hai rời am về Gò Công thăm nhà nhạc gia cho khuây khỏa. Một ngày sau, cậu bỗng dưng nói năng bất thường, lúc tỉnh lúc mê. Gia đình liền rước lương y về bắt mạch, tối đến mời nhà sư tụng kinh cầu nguyện, nhưng vô hiệu. Cho rằng cậu Hai bị điên nên gia đình nhốt cậu vào phòng khiến cậu càng quậy phá. Mấy ngày sau, cậu Hai được đưa lên Chợ Lớn tìm danh y chạy chữa. Vào một đêm mất ngủ cậu Hai dùng tay vặn chiếc đèn dầu lúc tỏ, lúc mờ suốt cả đêm – nói làm như vậy là để “thâu nhận âm dương”.

Cậu Hai chữa trị được chừng 3 tháng thì bình phục, và được cho về nhà nhưng do không chịu nổi đàm tiếu trong thiên hạ, ngày 3/9/1945, cậu khăn gói lên núi Tượng lần thứ hai. Lần này cậu được hòa thượng Thích Hồng Tôi nhận làm đệ tử. Cậu Hai tu theo hạnh đầu đà: ăn ngọ, ngủ ngồi, đi chân đất…

Mấy tháng đầu, cậu Hai ngồi ở hiên chùa hành đạo, sau mới đến ngồi trên tảng đá bên cạnh cột phướn tịnh khẩu suốt 3 năm liền. Có một hôm, trong lúc đang tịnh thì sư phụ đến, nói thấy cậu Hai lúc nào cũng hết lòng tu niệm không kể gì thân xác. Tấm gương khổ hạnh đó đủ giác ngộ chúng sanh. Nói xong Hòa thượng tặng cho cậu Hai chiếc bình bát. Sau này, đi tới bất cứ đâu, cậu Hai đều mang theo chiếc bình bát, coi đó là báu vật của đời tu sĩ.

Tự xưng “Thiên nhơn giáo chủ Thích Hòa Bình”

Năm 1948, sau 3 năm tu tập trên núi, cậu Hai trở về làng Phước Thạnh, cất chòi lá ở mé sông Cửu Long, đoạn gần Cửa Đại, ngồi trầm tư suốt 2 năm. Hàng ngày trước giờ ngọ cậu Hai ôm bình bát đi khất thực, chiều tối quay về chòi.

Năm 1950, cậu Hai về lại khu đất nhà gần quốc lộ 60, dùng ống nhựa và thân cây dừa dựng cái đài cao 14 mét. Trên chót đài lót tấm ván chừng 1 m2, cắt 4 góc để thành 8 cạnh, gọi là “Bát quái đài”.

Ban ngày trời nắng, cậu Hai ngồi dưới đài. Ban đêm, cậu Hai choàng một chiếc áo, lấy chiếc khăn màu hạt điều trùm lên búi tóc rồi lên đài ngồi nói là đang hành đạo! Với nhiều tu sĩ, việc giữ thân thể sạch sẽ trước lúc quán tưởng Phật pháp là điều quan trọng. Không hiểu vì lý do gì, mỗi năm cậu Hai chỉ tắm một lần vào ngày Phật đản.

Một góc núi Thái Sơn

Với kiểu hành đạo kỳ lạ, người hiếu kỳ đến xem ngày càng đông. Nhưng do bị cấm khẩu từ lúc còn ở trên núi Tượng nên ai hỏi thăm, cậu Hai chỉ viết giấy trả lời. Bất ngờ một hôm cậu Hai xưng là “Thiên nhơn Giáo chủ Thích Hòa Bình”, tuyên bố tôn thờ cả ba tôn giáo: đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên chúa và đưa ra triết thuyết “tổng hợp” gọi là “tôn giáo hòa đồng”.

Thấy cậu Hai thường ăn dừa, dân quanh vùng gọi ông là “Đạo Dừa”. Nhưng ông cải chính: “Đạo danh của tôi là Đạo Vừa, tức vừa phải, trung dung nhưng do cách phát âm của người Nam bộ đọc “vừa” thành “dừa”, với lại thấy tôi thích uống nước dừa nên mới gọi tục danh Đạo Dừa”. Đạo Dừa thật ra không phải là một giáo phái như nhiều người lầm tưởng, mà “Đạo” của cậu Hai chỉ là “đường lối” tu hành của một công tử Tây học cho khác người. Bởi cậu Hai không hề có kinh kệ hay giáo lý riêng. Cậu Hai cũng không gõ mõ tụng kinh mà chỉ ăn trái cây, rau củ.

Năm 1963 là thời điểm cao trào của chính sách gom dân, lập ấp chiến lược của chính quyền Ngô Đình Diệm. Làng Phước Thạnh là vùng giải phóng nên thường xuyên bị giặc bắn phá. Nhận thấy địa điểm hành đạo ở làng Phước Thạnh bất lợi, cậu Hai đến cồn Phụng dựng chùa Nam Quốc Phật, có nghĩa là “Phật nước Việt Nam”. Lý do đặt tên là cồn Phụng bởi trong lúc xây dựng chùa, thợ xây nhặt được một cái chén cổ có hình con chim phụng.

Cùng thời điểm này, cậu Hai mua một chiếc sà lan cả trăm tấn cho đệ tử sơn phết hình rồng phượng, xanh đỏ, vàng như một ngôi chùa nổi rồi gọi đó là “thuyền bát nhã”. “Thuyền bát nhã” được neo ở đầu cồn cho người qua lại trên phà Rạch Miễu dễ nhìn thấy. Cậu Hai cho xây trên cồn một số tháp, Bát quái đài cao 18 mét, quả địa cầu, cầu Hiền Lương, hội trường hoà bình, bánh xe luân hồi của Phật giáo, thập tự giá của Thiên Chúa giáo cùng nhiều biểu tượng tôn giáo khác.

Ở đây cậu Hai cho làm một cái đỉnh rồi ghép đầy những mảnh sành sứ hoa văn. Cửu Đỉnh đặt trên lưng con rùa đá ngậm thanh gươm, gọi là “thần quy tải đỉnh” và giải thích đó là hình tượng Hồ Hoàn Kiếm với tích: Lê Lợi nhờ thanh gươm báu của Thần Kim Quy mà đánh thắng giặc ngoại bang, đem lại hòa bình cho đất nước.

Cậu Hai cho rằng mình cũng có sứ mạng như thế! Còn ở sân cầu nguyện, cậu Hai cho xây 9 trụ hình rồng, tượng trưng cho 9 cửa sông Cửu Long. Cậu Hai giải thích với các đệ tử: Sân rồng là nơi hội tụ nguyên khí của “năm châu bốn bể” về đây phụng sự cho “Thiên nhơn Giáo chủ Thích Hòa Bình” tức Đạo Dừa của cậu Hai. Càng hoang tưởng hơn, trong số 9 trụ hình rồng thì trụ đặt giữa trung tâm cậu Hai cho tạc bộ phận sinh dục khác 8 trụ hình rồng có hình bông hoa.

Hầu hết các công trình kiến trúc ở “thánh địa” Đạo Dừa đều được kiến trúc sư nổi tiếng Huỳnh Văn Đại – tự Hoàng Đại “làm công quả” cho cậu Hai. Hoàng Đại sinh năm 1900, tại Quảng Trị, từng nói là tham gia thiết kế một số công trình kiến trúc ở kinh thành Huế.

Cao Thục Đoan

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here