Kỳ 1: Từ cuộc thám hiểm đầu tiên của nhà Nho yêu nước tới tấm bản đồ da dê của vị bác sĩ bí ẩn

Tấm mật đồ bằng da dê

Cuối năm 1993, vùng rừng núi La Ngâu, xã La Ngâu giáp với núi Ông tại huyện Tánh Linh, Bình Thuận xuất hiện một người đàn ông trung niên sang trọng thường đi xe hơi đời mới lên đây để tổ chức săn bắn. Cùng tháp tùng là những “cộng sự” to như hộ pháp rất kiệm lời và lạnh lùng. Gọi là săn bắn nhưng kỳ thực nhóm người này chỉ vào rừng ban ngày và rất ít khi nổ súng để bắn thú rừng. Họ gần như lội nát các cánh rừng ở núi Ông và dọc sông La Ngà.

Thanh, một thợ rừng khỏang hơn 30 tuổi khét tiếng lì lợm ở xã Đồng Kho luôn được trưng dụng dẫn đường mỗi khi nhóm người này xuất hiện tại Tánh Linh. Mỗi tháng dẫn đường lội rừng, Thanh được trả công 1,5 triệu đồng. Với thời giá lúc đó, đây là mức thù lao cao ngất quá sức hấp dẫn.

Ông Thái Nghiêm Tùng (áo trắng) người chủ trì khai thác kho báu và một công an xã tại địa điểm khai thác

 Trong một lần được đưa lên khu vực đá bàn của núi Ông, người đàn ông sang trọng và bí ẩn kia đã cao hứng cho Thanh biết ông ta đang có trong tay tấm bản đồ kho báu được vẽ trên miếng da dê. Để có được tấm mật đồ này, ông ta nói đã phải bỏ ra đến hơn một tỷ đồng (!?) Nếu tìm được những chi tiết tại núi Ông và vùng rừng núi La Ngâu giống như tấm mật đồ chỉ dẫn, ông ta sẽ xin phép UBND tỉnh Bình Thuận và Chính phủ khai thác kho báu có tới 7,5 tấn vàng này!

 Thông tin về những chuyến đi rừng bí ẩn của nhóm người này lập tức được làm rõ. Theo đó, người đàn ông trung niên có tên là Thái Nghiêm Tùng thường gọi là bác sĩ Tùng, có hộ khẩu đăng ký và sở hữu một biệt thự sang trọng tại Thủ Đức, TP.HCM. Năm 1993, ông Tùng lập dự án “Đông Âu” với hàng chục ha đất tại xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân (Bình Thuận). Dù thành lập trang trại với qui mô lớn ở đây nhưng vợ chồng ông Tùng vẫn hướng mắt về núi Ông và địa danh La Ngâu, huyện Tánh Linh, cách xã Tân Thắng, theo  đường chim bay cũng không dưới 20km.

Ngoại trừ phút ngẫu hứng nên buột miệng để lộ mục đích với người dẫn đường khi đứng trên đỉnh núi Ông, vị “bác sĩ” cực kỳ kín đáo, ít nói. Danh vị “bác sĩ” có thể chỉ là cách gọi cho vui, nhưng thực sự ông Tùng cũng là người đọc sách. Ông đã từng lật tung hàng đống thư tịch, tài liệu và biết chắc rằng từ thế kỷ 19 đã có hàng lọat cuộc thám hiểm săn lùng kho báu này của quan quân triều Nguyễn và của cả các sĩ quan của quân đội thực dân Pháp khi họ chiếm đóng nước ta.

Điều đó càng khiến ông tin chắc như dao chém đá rằng kho báu khổng lồ kia là hoàn toàn có thật. Có điều, chưa từng có ai trong những đoàn thám hiểm trước đây sờ tay được vào ổ khoá của cửa kho báu

Nhưng, thứ mà ông Tùng có trong tay hơn hẳn các đoàn thám hiểm trước. Đó là bức mật đồ da dê – chiếc chìa khóa thần diệu giúp ông trở thành người đầu tiên và duy nhất mở tung được cánh cửa của núi vàng đất Bình Thuận?

Cuộc thám hiểm đầu tiên của người Việt

Dù sao “bác sĩ” họ Thái cũng đã trót tiết lộ bí mật mà ông định rằng sẽ “sống để bụng, chết mang theo”. Nhưng, Bình Thuận là miền đất hẹp, nổi tiếng là “eo gió” cực Nam Trung Bộ cho nên “bí mật” được đồn thổi, lan truyền rất nhanh. Trước những thông tin này, một số nhà chuyên môn đã vào cuộc tra cứu để tìm hiểu đích xác ngọn nguồn sự thật. Và bất ngờ phát hiện những lời đồn trên đều trùng hợp một cách lý thú với nhiều dữ kiện lịch sử. Dù các chuyến đặt chân thám hiểm đến Tánh Linh không đề cập gì đến kho báu nhưng cái tên La Ngư (La Ngâu) nhiều lần được nhắc đến như một địa điểm bí ẩn cần được giải mã!

Hiện trường khai thác đào tìm kho báu

Người đầu tiên có ý định thám hiểm vùng rừng núi Cực Nam Trung Bộ là nhà Nho nổi tiếng văn tài nhưng không có duyên với khoa bảng Nguyễn Thông (1827-1884). Chỉ duy nhất một lần đậu cử nhân nhưng rồi lại bị đánh rớt vì bài thi phạm quy (bị lấm mực) nhưng vào năm 1855, Nguyễn Thông vẫn được triều đình nhà Nguyễn vời ra Huế, thăng Hàn lâm viện tu soạn, tham gia soạn sách “Nhân sự kim giám” (gương vàng soi việc người).

Năm 1859, khi thực dân Pháp xâm chiếm miền Đông Nam Kỳ, ông xin tòng quân và được cử làm tham mưu (coi việc cơ mật) cho Tôn Thất Hiệp. Năm 1861, đại đồn Chí Hòa thất thủ, ông được thăng từ Vệ úy lên Chưởng vệ, sung chức Phó đề đốc, để hiệp cùng Trương Định chống giặc. Năm 1862, triều đình Huế cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, ông đến Phước Tuy (Bà Rịa), lúc đó vẫn còn là miền đất heo hút để “tị địa” lần thứ nhất.

Phước Tuy nằm giáp với Bình Thuận, núi liền núi, rừng ken rừng điệp điệp trùng trùng. Trong mắt một văn nhân từng “xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung” như Nguyễn Thông, hoạ mất nước rõ ràng đã gần kề. Không cam tâm khom lưng hợp tác với Lang Sa, con mắt  nhìn xa trông rộng của ông đã nhắm đến vùng núi non hiểm trở vùng cực nam Trung Bộ để làm chốn náu thân lâu dài, đương cự lâu dài với quân xâm lược.

Từ Phước Tuy men theo bờ biển sang Bình Thuận nhiều lần, Nguyễn Thông đã cùng một số bạn bè đồng chí người Nam Kỳ bàn bạc việc tìm kiếm căn cứ địa để liên lạc với những lực lượng kháng Pháp ở khu vực Biên Hòa – Bình Dương. Ông đã tổ chức việc đi thám hiểm các vùng cao nguyên La Ngư, Bà Dần (nay thuộc huyện Tánh Linh, Bình Thuận), ghi chép địa hình, địa thế… Nhưng ông chưa làm được gì thì lại được triều đình đổi về Khánh Hoà  rồi sau đó ra Quảng Ngãi và Huế.

Năm 1867, ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cũng bị Pháp xâm chiếm, Nguyễn Thông cùng với nhiều sĩ phu Nam Kỳ không chịu hợp tác, nên đã tị địa lần thứ hai tại Bình Thuận. Ngay trong năm 1867, ý đồ kháng Pháp lâu dài trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, để tìm đất lập căn cứ ông đã dâng sớ “Khai sơn quốc nghị” xin vua Tự Đức khai hoang vùng núi rừng Bình Thuận vì vùng này “không có bãi xa truông rậm nguy hiểm, không bị đầm lớn sông dài chia cách”. Sớ của ông đề nghị “mở rộng bờ cõi, cày lấy ruộng ấy để thêm nhiều lương thực”.

Tiếp đó, trong “Sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng Thượng du” (Nghĩ thỉnh thượng du đồn khẩn sự nghi sớ), Nguyễn Thông đã trình bày chi tiết dự định, viết: “Đất La Ngư, phía đông bắt đầu từ rặng núi Ông, phía Tây đến núi Cà Tong, phía Bắc đến bờ sông La Ngư, phía Nam đến núi Ông, ruộng khai khẩn ước chừng trên 3000 mẫu”. Vùng La Ngư chính là thung lũng xã La Ngâu ven sông La Ngà, thuộc huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận ngày nay.

Bà Dần, theo chúng tôi, là thôn Bà Giêng trên bản đồ ngày nay, nằm giáp ranh với huyện Hàm Thuận Nam ở phía Đông Nam huyện Tánh Linh. Ở phần tiểu dẫn của bài thơ “Dữ Nam lai chư nhân vãng La Ngư mưu hưng điền chính” (Cùng những người từ trong Nam ra đến La Ngư tính việc làm ruộng), Nguyễn Thông dùng tên La Ngư để chỉ đoạn sông La Ngà từ Biển Lạc (Lạc Hải) trở về thượng nguồn. Vùng La Ngư – Bà Dần do đó còn được gọi là La Ngâu – Biển Lạc đều thuộc huyện Tánh Linh ngày nay.

Với những dữ liệu trên, những nhà sưu tầm tài liệu đề cập đến nhiều giả thuyết, cho rằng ý thức được Pháp sau khi chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ sẽ quan tâm đến vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là kho báu Chăm Pa chôn ở La Ngâu. Vì thế ý định của Nguyễn Thông là tiếp cận bằng được kho báu này để dùng vàng mua lương thực, súng ống, đạn dược và dựa vào địa hình hiểm trở ở đây để kháng Pháp.

Tuy nhiên kế hoạch La Ngư – Bà Dần của Nguyễn Thông về sau bị triệt bãi vì áp lực của Soái phủ Nam Kỳ (tức Phủ thống đốc Nam Kỳ). Mặt khác, ngoài những đợt khảo sát trước khi được triều đình điều chuyển, khi quay nơi tị địa, sức khoẻ của Nguyễn Thông cũng đã suy nên từ đó đến cuối đời, ông không còn có dịp thực hiện kế hoạch!

Thanh Trúc – Phương Nam

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here