Trong trường ca Nhân chứng của một cái chết, có một đoạn tôi viết về khúc sông Đáy chảy qua làng tôi: “Tôi đứng bên bờ sông như đứng bên bờ của thế gian. Những con thuyền trôi trước tôi như ở một thế giới khác. Tôi nhìn thấy những đàn bà từ nước đi lên. Hai bàn tay họ giữ chặt hai bầu vú và biến vào bãi dâu. Và từ ngút ngàn dâu xanh những người đàn bà khốn khổ đi ra. Họ quảy những chiếc thùng và cất lên những tiếng nằng nặc như giọng nói từ trong ngôi mộ.

Có một chiều, một chiếc thuyền ghé bờ nơi tôi đứng. Từ trên thuyền người đàn bà kỳ dị nhìn tôi và thở dài. Bà rủ tôi lên thuyền đi sang bến bờ bên kia. Tôi hỏi bà sang đó làm gì? Và ở đó có gì?Người đàn bà không trả lời câu hỏi của tôi và chèo thuyền đi khuất.

Người đàn bà ấy không con và thường qua khúc sông làng tôi. Đến bây giờ, những năm cuối thế kỷ, mẹ tôi vẫn nhớ rõ người đàn bà ấy. Đêm đêm mẹ tôi vẫn sợ hãi và vẫn nguyền rủa người đàn bà ấy. Hình dáng bà trong tôi như câu chuyện cổ. Lúc nào nhớ đến bà tôi lại tin chiều ấy chỉ có trong mơ.

Vì thế đêm nay tôi vẫn đứng ở bến bờ này. Tóc tôi giờ đã rụng, râu tôi giờ đã bạc. Nếu ngày ấy tôi lên thuyền tôi đã ở bến bờ khác”.

Người đàn trong đoạn thơ văn xuôi nói trên là người đàn bà tôi đã gặp thuở nhỏ bên bờ sông Đáy chảy qua làng tôi. Thuở nhỏ tôi hay ra bờ sông chơi. Một chiều, có một người đàn bà cập chiếc thuyền thúng sát bờ nơi tôi đứng và rủ tôi lên thuyền để sang bờ bên kia với nhiều hứa hẹn hấp dẫn. Tôi bị hấp dẫn bởi lời hứa đó nhưng cuối cùng tôi đã không bước lên con thuyền đó. Nghe chuyện đó, mẹ tôi sợ hãi ôm chặt lấy tôi và nguyền rủa người đàn bà kia. Mẹ tôi nói đó không phải là người mà là ma.

Mỗi khi nhớ đến người đàn bà kỳ bí đó tôi lại nhớ đến câu chuyện về một hồn ma chèo đò vào những đêm khuya khoắt hoặc những ngày mưa giông mù mịt. Hồi còn nhỏ, bà tôi vẫn thường kể cho mấy anh chị em tôi nghe những câu chuyện như thế. Chúng tôi đã nghe bà tôi kể câu chuyện này hàng chục lần. Nhưng cứ đêm xuống, tôi năn nỉ: “Bà ơi, bà kể chuyện đò ma đi bà”.

Vào những năm tháng xa xưa, con sông Đáy rộng hơn bây giờ. Hồi nhỏ ra sông tôi thường đứng bất động nhìn sang bờ bên kia như một xứ sở thần tiên. Hai bờ sông um tùm những cây dứa dại, tầm xuân, cây găng và những bụi tre. Đêm xuống, tiếng gió thổi làm cho những cây tre cọ vào nhau phát tiếng kêu ken két như ai đó đang nghiến răng. Người làng tôi bảo đó là những con ma đói nghiến răng.

Ở bến sông làng tôi có một gia đình làm nghề chèo đò đưa khách qua sông. Họ chỉ chèo đò đưa khách vào ban ngày chứ chẳng mấy khi đưa khách vào những đêm khuya khoắt hay những lúc giông bão. Nhưng vào một đêm khuya, một người làng tôi đi làm ăn xa về gọi đò. Trong ánh sáng mờ ảo hắt từ mặt nước sông lên, ông thấy một con đò từ từ cập bến. Mừng quá, ông vội bước lên đò. Con đò từ từ rời bến.

Khi đã ngồi yên vị trên đò, ông mới quay lại nhìn người lái đò. Nhưng vì đêm tối và vì người lái đò đội chiếc nón như che hết mặt nên ông không biết người chèo đò là đàn ông hay người đàn bà. Ông bèn nói với người lái đò rằng ông là người làng đi làm ăn xa một năm chỉ về quê một lần nên cũng không biết tên người chèo đò ngang ở khúc sông là gia đình nào trong làng.

Nghe ông nói, người lái đò vẫn nhịp nhàng chèo đò chỉ cười khúc khích kỳ lạ. Ông gặng hỏi mấy lần nhưng người chèo đò vẫn không trả lời. Đến lúc đó, ông thấy sương mù từ mặt sông bốc lên mỗi lúc một nhiều. Ông cảm thấy người lạnh sởn gai ốc. Ông nhìn về bờ sông phía làng tôi. Lạ thay, lúc đầu ông thấy bờ sông hiện ra lờ mờ mỗi lúc một rõ, nhưng càng về sau thì bờ sông như càng mất hút.

Ông vội nhìn lại bờ phía bờ bên kia thì chỉ thấy sương mù mịt. Ông thấy con đò đang trôi trong một thế giới nào đấy. Bỗng ông nghe thấy người chèo đò khóc. Nghe ra thì đó là tiếng khóc của trẻ sơ sinh. Ông giật mình kinh hãi lập cập hỏi người chèo đò có chuyện gì. Nhưng ông chỉ nghe tiếng khóc oe oe như vọng từ đáy sông lên. Khóc một lúc, người chèo đò lại cười khúc khích.

Ông ngồi như chết, hai tay bám chặt vào mạn đò. Người chèo đò bỏ chiếc nón đội đầu ra. Ông hét lên. Một cái đầu trọc lốc cùng với bộ mặt trắng như vôi và hai hốc mắt tối đen hiện ra. Ngay lúc đó, con đò chao đảo rồi bỗng tan biến. Người đàn ông ngã rơi xuống sông. Ông hoảng hốt ngoi lên khỏi mặt nước và vừa bơi vừa kêu cứu. Cuối cùng ông cũng bơi được vào đến bờ. Ông vội lao lên bãi sông rồi nằm vật xuống thở như đứt hơi và tim đập như vỡ. Sau khi bình tĩnh trở lại, ông nhìn ra phía con sông. Mặt sông sáng lờ mờ, yên tĩnh trong đêm như trước khi ông bước xuống đò.

Ông chẳng thấy một con đò nào và cũng chẳng thấy một sợi sương khói trên mặt sông. Lúc đó ông tin rằng đó là con đò ma. Ông vội đi lên đề về nhà. Ông kể lại chuyện đó cho gia đình nghe. Sáng hôm sau, người nhà ông ra bến sông tìm đến nhà ông lái đò ngang trên xóm bãi làng tôi kể lại câu chuyện đó. Nhưng gia đình người lái đò ngang nói suốt tối qua cho đến sáng sớm không nghe thấy ai gọi đò cả.

Họ cũng khẳng định quanh khúc sông làng tôi trong mấy ngày gần đó không có gia đình thuyền chài nào  thả lưới. Ông lái đò làng tôi kể thi thoảng ông cũng đi thả vẹ cá chép lúc đêm khuya nhưng chưa bao giờ thấy một con đò nào có người chèo đò như thế. Nhưng có những đêm khuya ông thoảng nghe tiếng trẻ sơ sinh khóc. Ông nghĩ ông nghe nhầm hoặc có thể tiếng trẻ từ một nhà nào ở xóm bãi bên kia sông gần đó theo chiều gió vọng về.

Câu chuyện đó tưởng rồi sẽ trôi vào dĩ vãng. Nhưng rồi sau đó có những người làng tôi đi làm đâu đó về khuya gọi đò lại thấy một con đò đột ngột hiện ra như từ dưới đáy sông nổi lên cùng với người chèo đò đội chiếc nón che kín mặt. Rồi cứ đến giữa sông thì người chèo đò lại bỏ chiếc nón ra. Một cái đầu trọc với gương mặt trắng như vôi và hai hốc mắt tối đên hiện ra. Con đò lại chao đảo và bỗng tan biến.

Đấy là những người thoát chết kể lại. Hồi đó hàng năm vẫn có những người chết đuối. Người làng tôi cho rằng họ bị con ma chèo đò ngang lừa lên đò rồi dìm chết. Nhưng có một điều kỳ lạ là không có bất cứ người nào ở làng khác bị dìm chết ở khúc sông này. Có những người làng khác kể chính họ đã được chiếc đò và người lái đò như thế đưa qua sông trong những đêm khuya và trong những buổi chiều mưa giông mù mịt. Nhưng con đò ấy đã đưa họ cập bờ an toàn. Khi họ trả tiền đò thì người chèo đò không nhận mà lặng lẽ quay đò rời bến. Và kỳ lạ, chỉ trong chớp mắt con đò đã biến mất như chưa hề có.

Câu chuyện về con đò ma trở thành câu chuyện được kể đi kể lại trong mọi gia đình của làng tôi. Một cụ già gần 100 tuổi người làng tôi khi nghe câu chuyện ấy bỗng nhớ lại khi cụ còn nhỏ tuổi cụ đã chứng kiến một câu chuyện có thật xẩy ra ở làng. Đó là chuyện một cô gái làng chửa hoang. Khi phát hiện ra cô gái có chửa mà lại không có chồng, làng phạt vạ cô.

Luật của làng tôi hồi đó là nếu cô gái nào không có chồng mà có chửa thì làng sẽ cạo trọc đầu, bôi vôi và trói vào chiếc bè chuối thả trôi sông. Cô gái ấy đã van xin cho cô đi và hứa sẽ không bao giờ trở về làng. Nhưng hội đồng bô lão làng tôi và những người làng không chấp nhận lời cầu xin của cô. Người ta đã cạo trọc đầu cô, bôi vôi kín đầu, kín mặt, trói cô trên chiếc bè ghép bằng mấy thân cây chuối và thả xuống khúc sông làng.

Chiếc bè chuối bị lật và cô gái ấy đã chết đuối trên sông. Cụ già khẳng định đó là hồn ma cô gái đã bị làng phạt vạ không siêu thoát được mà vật vờ ở bến sông làng chờ người qua sông trong đêm khuya rồi dìm xuống nước. Tiếng cười khúc khích và tiếng khóc trẻ sơ sinh mà những người đi chuyến đò ma ấy nghe được là tiếng cười, tiếng khóc của cái thai nhi trong bụng cô gái đã chết oan cũng người mẹ xấu số của mình.

Một số người làng đã tổ chức cúng lễ cho oan hồn cô gái nhưng những chuyến đò ma và những người chết đuối vẫn không hết. Một ông thầy đồ bèn viết một bản tấu lên hội đồng bô lão trong làng xin bỏ tục phạt vạ những cô gái chửa hoang.

Hội đồng bô lão tranh luận gay gắt. Sau nhiều năm tranh cãi, hội đồng bô lão mới đồng ý bỏ tục phạt vạ đó. Hội đồng bô lão sửa lễ dâng thành hoàng làng và đọc sớ xin bỏ tục phạt vạ các cô gái chửa hoang. Và từ năm đó cho đến tận ngày nay, người làng tôi không bao giờ nghe ai nói có gặp chiếc đò ma và người chèo đò ấy nữa.

Nguyễn Quang Thiều

Gửi phản hồi