Kỳ cuối: Kho báu triệu đô và câu chuyện buồn của lão ngư ông

300 năm dưới đáy đại dương

Tháng 9/1990, Bộ Văn hóa – Thông tin chính thức cho phép khai quật tàu cổ Hòn Cau. Sau 2 năm khai quật, 68.000 hiện vật được đưa lên khỏi mặt nước, hầu hết là gốm sứ: bình trà, bình bông, chóe, chén, dĩa… Niên đại của những cổ vật này được dựa trên những đồng tiền cổ có niên hiệu Khang Hy, nghiên mực hình chữ nhật có chữ hán “Canh ngọ niên”, cùng với xuất xứ của các món đồ gốm sứ trên tàu thuộc dòng sản phẩm của lò gốm sứ nổi tiếng Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây sản xuất vào năm 1690 thu được trong quá trình trục vớt. Đây cũng được cho là khoảng thời gian con tàu gặp nạn.

Nếu tính đến thời điểm trục vớt, con tàu xấu số nằm dưới đáy biển ngót 300 năm. Dù bị chôn dùi dưới đại dương 3 thế kỷ, nhưng các món đồ gốm sứ vẫn giữ được màu men tuyệt đẹp, chủ yếu là sứ men trắng vẽ hoa lam mà kỹ thuật chế tác đạt tới trình độ điêu luyện.

Một chiếc bình trà được vớt lên từ Hòn Cau

Năm 1992, 28.000 cổ vật được chọn ra trong số 68.000 cổ vật khai quật, đưa sang Hà Lan đấu giá và thu về 6,7 triệu USD. Trong lúc cuộc đấu giá tại Hà Lan chưa kết thúc, một số ngư dân Vũng Tàu tiếp tục ra Hòn Cau để mót cổ vật. Hàng trăm cổ vật trong vùng nước có bán kính 1 hải lý được ngư dân tranh nhau khai thác.

Điều đáng nói, trong quá trình lặn mót cổ vật, có một ngư dân ở phường 10, thành phố Vũng Tàu bị liệt nửa người, ít lâu sau thì chết vì nhũn não. Trước khi về nơi chín suối, ông gọi vợ lại và nói nhỏ rằng, ở khu vực Hòn Cau còn có ít nhất 6 con tàu chìm. Chừng nào con mình lớn nói nó ra đó vớt đồ cổ đem về. Và đừng quên trước khi ra Hòn Cau nhớ ghé lại Hòn Bà mà khấn…

Thông tin này sau đó được người vợ thông báo cho em trai, đó cũng là thời điểm ngư dân Vũng Tàu lùng sục để tìm ra con tàu cổ bí ẩn này. Bão tố về con tàu bị đắm ở khu vực Hòn Bà lại trỗi dậy dữ dội hơn khi thỉnh thoảng một vài ngư dân đi biển mang từng giỏ cổ vật về đất liền.

Đến giữa năm 1993, Bộ Văn hóa – Thông tin cho phép Bảo tàng Vũng Tàu phối hợp với Visal tiếp tục khai quật con tàu ở Hòn Bà và vớt được 569 cổ vật, chủ yếu là đồ đất nung của người Việt thế kỷ XIX.

Câu chuyện buồn của lão ngư ông

Lần quay trở lại Long Hải mới đây, chúng tôi hay tin lão ngư Năm Son, người được cho là phát hiện ra kho báu Hòn Cau, đã mất. Những bước chân xiêu vẹo như chực đổ của ông ở những năm tháng cuối đời chưa hẳn là do cái tuổi 80, mà có hậu quả của những lần lặn sâu dưới đáy biển.

Tôi nhớ có lần ông bảo mình còn được như vầy là may mắn, bạn câu của ông nhiều người bị bại liệt, tai biến, thậm chí có người tử vong vì lặn biển không đúng cách. Trong số 11 bạn câu ngày trước của ông đã lần lượt “ra đi”, ai cũng mang đủ thứ bệnh tật do chịu sự khắc nghiệt của thiên nhiên trên biển.

Nhiều lúc mới ra khơi, trong nhóm có người đổ bệnh, đành nằm trong khoang thuyền chứ nhất định không chịu quay về vì sợ lỡ chuyến ra khơi của bạn. Nghề câu mực mỗi năm chỉ đi biển hai mùa, mùa từ tháng 2 – 4 âm lịch và mùa tháng 7 – 9 âm lịch.

Thời điểm năm 1989, gia đình có ghe câu khơi (câu mực) ở vùng biển Hòn Cau (bấy giờ gọi là Hòn Dừa, thuộc đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo). Nơi đây có độ sâu chừng 40m, bên dưới có dòng nước xoáy, tập trung khá nhiều loài hải sản.

Những thợ câu như ông Năm Son lúc đó chưa sắm nổi máy tầm ngư, nên việc buông câu ở đâu phụ thuộc vào kinh nghiệm nhìn dòng hải lưu. Nhóm bạn câu của ông trong một lần ra vùng biển Hòn Cau thì thấy nơi đây “sóng yên biển lặng”. Bằng kinh nghiệm đi biển, ông Son quyết định buông neo vì cho rằng nơi đây nhất định sẽ có nhiều hải sản. Quả thật, thay vì mỗi chuyến đi phải mất từ 10 – 15 ngày mới đủ “sở hụi” trở về đất liền thì lần này chỉ sau 5 ngày, nhóm của ông “trúng đậm” đủ “sở hụi” để quay về đất liền.

Liên tục nhiều chuyến ra biển sau đó cũng “trúng” như vậy. Nhóm ngư dân bắt đầu nghi ngờ bên dưới lòng đại dương ắt là có rạn san hô hay cái gì đó khác thường mới thu hút hải sản tập trung nhiều đến vậy.

Để tìm lời giải, nhóm ngư dân quyết định cử ông Năm Son lặn thám sát. Mọi người thất vọng khi biết dưới đáy đại dương không hề có rạn san hô mà là xác một con tàu chìm dưới cát, bên trên vươn vãi nhiều món đồ sành sứ. Trong lần lặn thứ hai, nhóm của ông vớt lên được 2 giỏ cần xé sành sứ (1 giỏ cần xé chất đầy cân nặng khoảng 1 tạ), trong đó hầu hết là chén, dĩa, bình trà và một vài bình bông.

Đặc điểm của nghề câu đa phần ích kỷ, hễ phát hiện nơi nào có nhiều nguồn lợi hải sản thì giấu biệt. Ngay cả trong lúc buông câu bất chợt thấy ghe thuyền lạ xuất hiện trong phạm vi chừng10 hải lý là nhổ neo bỏ chạy. Chính vì vậy, nhóm bạn câu của ông Năm Son khi phát hiện ra con tàu cổ Hòn Cau có nhiều đồ gốm sứ đã âm thầm lặn vớt mà các ghe câu khác không hề hay biết.

Mãi cho đến khi mấy tay săn đồ cổ từ TP.HCM xuống thu gom mới biết đây là những món đồ cổ quý giá. Cũng từ đây chính quyền địa phương phát hiện và cấm ngư dân khai thác. Đến lúc này ông Son mới báo (bằng miệng) cho chính quyền địa phương biết sự việc và mãi về sau ông vẫn một mực khẳng định từ thông tin này cơ quan chức năng mới biết được vị trí con tàu cổ Hòn Cau và tiến hành trục vớt.

Sau này khi đi làm thủ tục để nhận thưởng, ông bất ngờ khi nghe nhà chức trách nói không hề nhận được tin báo của ông. Trước ông, đã có người khác khai báo bằng văn bản. Quá thất vọng, ông chạy đến Bảo tàng tỉnh cầu cứu. Lúc bấy giờ nhiều cán bộ bảo tàng lâu nay hướng dẫn ông làm thủ tục “lãnh thưởng” nghe tin này cũng bị “sốc”. Còn người đân địa phương theo dõi câu chuyện kho báu Hòn Cau cũng hết sức ngỡ ngàng. Bởi trước đó, ai cũng nghĩ ông chắc chắn sẽ nhận được tiền thưởng.

Trái lại, Hội đồng thi đua khen thưởng – như ông Son nói, thưởng cho một ngư dân khác 40 triệu đồng. Từ đây, cuộc đời ông Son không gắn với biển cả nữa, thay vào đó là những chuỗi ngày gần 10 năm đi đòi quyền lợi, mòn mấy cặp vỏ xe đạp nhưng không mang lại kết quả gì nên cuối cùng bỏ cuộc. Tuy vậy, nhắc đến ông, hàng xóm bảo ông vẫn là “ông vua đồ cổ”, họ nghĩ ông vẫn còn “ém” hàng.

Khi được hỏi điều này, người nhà ông chua xót cho biết đó là “cách giễu cợt” của hàng xóm. Có chăng ông chỉ “ém” lại được chiếc dĩa mẻ và ống tăm gãy đôi bị giới săn đồ cổ chê nên mới có cái để làm kỷ niệm.

Người mà ông Son cho là không phát hiện ra kho báu Hòn Cau nhưng được trọng thưởng đó là ông Quách Hạnh. Chúng tôi đã gặp ông trong căn nhà tạm bợ nằm trên bãi biển dưới chân đèo Nước Ngọt (Long Hải) để làm nghề kéo lưới mưu sinh. Khi nghe nhắc lại kho báu Hòn Cau, ông kể vào thời điểm đó, ông không cùng nhóm bạn câu với ông Son. Ông cũng không phải là người đầu tiên phát hiện ra con tàu Hòn Cau. Ông chỉ biết khi thông tin kho báu lộ ra trong giới ngư dân. Lúc này ông cũng giống như nhiều ngư dân khác “mò” ra Hòn Cau để tìm kiếm cơ hội.

Ông nhớ đâu mình lặn được vài chuyến thì có tin Nhà nước cấm khai thác. Ông đã báo cho người cậu nguyên là cán bộ địa phương biết tọa độ con tàu chìm. Sự việc tưởng chừng như là trách nhiệm công dân, không ngờ sau đó Hội đồng khen thưởng của tỉnh mời ông lên lãnh thưởng. Có tiền, ông hùn vốn với người em rể mua ghe cào. Ông đi biển được vài năm thì mất vốn, bán ghe. Từ đó đến nay, ông sống nhờ vào ngôi nhà nhỏ của người em trai dưới.

Có thể nói, biển Việt Nam luôn sôi động trong mọi thời kỳ lịch sử. Với những hoạt động hàng hải lâu đời, chắc chắn có nhiều tàu đắm trong quá trình vận chuyển trên biển. Nhưng tiếc thay, 100% tàu cổ được tìm thấy từ trước đến nay đều do ngư dân phát hiện, đến khi Nhà nước vào cuộc khai quật thì rất nhiều cổ vật đã rơi vào tay giới săn đồ cổ.

Cao Thục Đoan

Gửi phản hồi