Chiều cuối năm Đinh Dậu (2017) tôi ngồi uống rượu lạc rang với ông Cao Đăng Thân – Chủ tịch Hội Người cao tuổi làng Đại Khánh. Bất ngờ tôi nghe tiếng chuông chùa. Tôi ngồi lặng đi mấy giây, trong khi chén rượu vẫn cầm trên tay.

Không gì thanh bình hơn tiếng chuông chùa. Trong cuộc sống gấp vội và nhộn nhạo ngày nay, tiếng chuông chùa ngân nga như nhắc chúng ta hãy tĩnh tâm lại, sống chậm lại. Tôi nói với ông Thân: “Tuyệt vời quá. Âm thanh tuyệt nhất lúc này là tiếng chuông chùa”. Ông Thân nói: “Chùa mới khánh thành hồi tháng 8 năm nay. Năm nay là Đinh Dậu, tháng 8 cũng là tháng Dậu.

Sở dĩ tôi nhắc tới năm Dậu, tháng Dậu vì nó có liên quan tới một câu sấm của sư thầy trụ trì chùa Đại Khánh ngày trước – “Kê đề chung thanh lai kiến tự”. (gà gáy, chuông ngân lại thấy chùa). Tôi biết câu sấm này vào tháng 8/2005, cũng là năm Dậu, tháng Dậu. Năm đó tôi làm nhà mới và đi moi cát ở nền chùa để xây nhà. Ngày xưa các cụ xây chùa rất kỹ. Nền chùa được đổ bằng 4 lớp. Lớp dưới cùng dày 1m bằng cát vàng. Lớp thứ hai là đá hộc. Lớp thứ 3 là đá dăm.

Và lớp cuối cùng là gạch đỏ. Cát ở nền chùa rất tốt. Trong khi moi cát, tôi trông thấy cái chuông đồng. Tôi gọi các con ra khênh chuông về, lau rửa sạch sẽ thì đọc thấy 4 chữ rất to đúc nổi ở thành chuông – Đại Khánh chung tự. Tôi báo cáo việc này lên xã và xã lại báo cáo lên huyện. Phòng văn hóa về xem xét kỹ cái chuông và nói rằng đó là cái chuông cổ của chùa Đại Khánh, là tài sản của làng Đại Khánh nên sử dụng nó thế nào thì do làng Đại Khánh quyết định.

Mặt trận họp làng, xin ý kiến của dân và nhân dân đề nghị xây lại chùa. Mặt trận giao Hội người cao tuổi tổ chức việc xây lại chùa Đại Khánh. Tôi là Chủ tịch Hội Người cao tuổi nên việc này do tôi gánh vác. Mấy đêm liền tôi không ngủ được. Xây lại chùa là một việc rất lớn, cần rất nhiều tiền. Nhưng nhớ lại câu sấm của sư thầy trụ trì, tôi lại tin rằng việc xây chùa sẽ thành công. Khi khênh cái chuông cổ về nhà, tôi thấy trong chuông có một cái ống đồng, trong ống đồng có một cuốn sách, ghi chép về việc xây chùa và cuối sách có câu sấm của sư thầy trụ trì.

Tôi là người tìm thấy cái chuông, lại liên quan đến năm Dậu, tháng Dậu, giờ lại được làng giao cho việc tổ chức xây lại chùa. Việc làm đền chùa xưa nay đều do nhân dân đóng góp. Mặt trận kêu gọi nhân dân góp tiền xây chùa. Tôi không ngờ là người làng mình hưởng ứng rất mạnh mẽ. Nhiều bà tháo cả hoa tai bán để góp tiền xây chùa. Tuy vậy nhưng số tiền cũng chỉ được gần 200 triệu thôi.

Hai trăm triệu có thể xây được một ngôi nhà nhưng không đủ để xây chùa. Tuy vậy tôi vẫn cho đổ móng và xây tường bao. Tường bao của chùa như thế nào thì các cụ làng mình đều biết nên xây lại không khó và giống y như ngày trước. Sau khi đổ móng và xây tường bao, tôi gửi thư đến con em người làng mình đang làm ăn ở xa kêu gọi đóng góp công đức để xây lại chùa. Con em trong làng kéo về rất đông và ủng hộ rất nhiệt tình.

Người ủng hộ nhiều nhất là một tỷ đồng, còn lại vài trăm triệu đồng, vài chục triệu. Có người chở về 4 khối gỗ lim. Lại có người ủng hộ 5 tấn xi măng. Như thế là có thể làm chùa được rồi. Tôi mời một phường thợ giỏi nhất về làm chùa. Thợ mộc làng mình không làm được chùa, vì phải chạm trổ tinh vi và cầu kỳ lắm. Thợ cứ làm từng chi tiết một, hết sức kỹ lưỡng. Việc này không thể làm vội được. Khó nhất là việc làm tượng Phật.

Tượng phải làm bằng lõi gỗ mít. Ông Trinh ủng hộ một cây mít to. Bà Hồng ủng hộ 2 cây mít 30 năm tuổi. Có gỗ mít rồi vẫn chưa làm tượng được vì còn phải chờ gỗ thật khô các nghệ nhân mới làm tượng theo nguyên mẫu ở chùa Tây Phương. Vì thế mà chùa phải làm tới 12 năm mới xong”.

Chùa Đại Khánh bị phá năm 1960. Ngày đó có 2 phong trào được phát động rất rầm rộ. Một là phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Hai là phong trào bài trừ mê tín dị đoan. Bao nhiêu đền chùa miếu mạo bị đập phá hết.

Ngày đó tôi đang học cấp 2 và đêm nào cũng được huy động đi phát thanh tuyên truyền cho phong trào xây dựng hợp tác xã. Loa truyền thanh của tôi là một cái mo cau cuộn hình loa kèn. Còn tài liệu là báo Nhân Dân. Tôi đọc rất hào hứng.

“Dân có ruộng dập dìu hợp tác. Lúa mượt đồng ấm áp làng quê. Chiêm mùa cờ đỏ ven đê. Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn”. Những vần thơ hơn hớn như thế đọc lên ai chả mê. Và hợp tác xã nông nghiệp làng tôi đã được thành lập. Có hợp tác xã rồi nhưng chưa có trụ sở. Ban quản trị còn phải làm việc trong nhà ông Thân, vì ông là chủ nhiệm hợp tác xã. Ban quản trị quyết định dỡ chùa Đại Khánh để lấy gỗ và gạch ngói xây dựng trụ sở hợp tác xã.

Như thế là một mũi tên trúng 2 đích, vừa được phong trào xây dựng hợp tác xã, vừa được phong trào bài trừ mê tín dị đoan. Ban quản trị họp hôm trước, hôm sau ông Thân đến chùa định nói chuyện với sư trụ trì thì nhà sư và các chú tiểu đã bỏ đi từ lúc nào rồi. Làng tôi dỡ chùa nhưng không thấy cái chuông. Có lẽ lúc đó cũng ít người nhớ tới cái chuông chùa. Và năm 2005, chính ông Thân đã tình cờ trông thấy cái chuông chùa trong lòng đất. Chính vì tìm thấy cái chuông cổ mà người làng tôi quyết định xây lại chùa.

57 năm trước, ông Thân đã khởi xướng việc dỡ chùa để xây dựng trụ sở hợp tác xã. Nhưng rồi hợp tác xã bị phá sản, vì giá trị ngày công lao động chỉ có 3 lạng thóc thì không ai sống nổi. Ông Thân nói: “Toàn dân góp ruộng, góp trâu bò để xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Trong buổi cày ải đầu tiên, tôi đã linh cảm thấy thất bại rồi. Trước đây mỗi con trâu cày một thửa ruộng, giờ 3-4 trâu, thậm chí 5-7 trâu cày chung một thửa ruộng nên trâu húc nhau thường xuyên. Ngày nào cũng có trâu bị mù mắt, bị thủng bụng vì đánh nhau. Một phương thức sản xuất mà đến trâu bò cũng còn không chịu được thì con người làm sao chịu được. Biết thế mà không được nói thế, vì nếu nói ra là bị kỷ luật ngay.

Năm 1990, Bộ chính trị ra Nghị quyết khoán 10, nghĩa là giao lại ruộng cho dân, cũng có nghĩa là giải tán hợp tác xã Nông nghiệp. Lúc đó tôi đang làm thủ quỹ của hợp tác xã. Tài sản còn gì nữa đâu. Một ông phóng viên báo tỉnh về nắm tình hình thực hiện khoán 10. Sắp đến bữa cơm trưa rồi mà không biết lấy gì để tiếp đãi nhà báo. Ông chủ nhiệm ký một tờ phiếu xuất kho đưa cho tôi – Xuất 3 lạng thuốc chuột để tiếp nhà báo.

Ba lạng thuốc chuột lúc đó bán đi mua được 2kg thịt lợn. Chia ruộng cho dân thì đời sống khá ngay. Lúa tốt ngập bờ. Ngày xưa đói vàng mắt, còn bây giờ thóc đầy bồ, ăn không hết. Và nhờ kinh tế ngày càng khá lên nên dân mới có tiền để đóng góp xây chùa”.

Tôi vẫn còn giữ nguyên ký ức đẹp về chùa Đại Khánh. Thuở nhỏ, tôi thường mang sách ra chùa ngồi ôn bài. Quê tôi mùa hè gió Lào quạt lửa hầm hập. Nhưng vào chùa ngồi ôn bài lại thấy rất mát. Và thỉnh thoảng sư thầy lại cho tôi vài múi bưởi hoặc một quả chuối. Vườn chùa rất rộng và chỉ trồng toàn bưởi và chuối. Suốt hơn nửa thế kỷ cả khuôn viên chùa bỏ hoang, không ai làm nhà ở. Đúng ra thì cũng đã có người ở. Đó là ông Phú, bộ đội chống Pháp phục viên về làng.

Ông xin làm nhà trên đất chùa. Tường xây lên bị đổ 2 lần nhưng ông vẫn xây. Ông cưới vợ và sinh một con gái bị bệnh tâm thần. Sau đó ông bị tai biến mạch máu não và chết. Từ đó không ai dám làm nhà trên đất chùa nữa. Bây giờ chùa mới lại được dựng trên nền chùa cũ và vẫn lấy tên là Đại Khánh tự. Tôi nói với ông Thân: “Xây lại thành công chùa Đại Khánh là công lớn của ông, là thành công lớn nhất trong đời ông”. Ông Thân nhấp 1 chén rượu và nói sau một lúc im lặng: “Tôi không có công gì lớn, cũng không thành công gì mà tôi gặp may.

Ông trời đã run rủi cho tôi được gặp cái chuông cổ và dân làng đã tin cậy giao cho tôi việc xây lại chùa. Trước đây tôi có tội là đã chủ trì việc phá chùa. Bây giờ trời cho tôi cơ hội để chuộc tội. Năm nay tôi đã hơn 80 tuổi rồi. Đêm nằm nghe tiếng chuông chùa tôi thấy lòng thanh thản hơn, có nhắm mắt xuôi tay cũng không phải ân hận nữa. Làng mình đang giàu lên. Nhà tầng san sát như thành phố.

Nhưng con người sống với nhau cũng dữ dằn hơn, chụp giật nhiều, đụng đến đao kiếm nhiều. Giàu mà như thế thì thà sống nghèo như xưa còn hơn. Tôi nói với sư trụ trì rằng trong các buổi giảng kinh Phật xin thầy nói thật kỹ về thuyết nhân quả. Nếu không biết thuyết nhân quả để sống cho tử tế thì không thành người được đâu”.

Ngọc Tuệ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here