Ró đất khi đã thái lát, phơi khô

Bài thuốc học lỏm từ nhà quan lang

Ông Bùi Văn Thiển (trú tại thị trấn Bo, huyện Kim Bôi) tuổi đã ngoại ngũ tuần, tóc có nhiều sợi bạc nhưng giọng nói vẫn sang sảng, nước da bánh mật căng bóng, dáng đi nhanh nhẹn, khỏe khoắn. Trong nhà ông Thiển có khá nhiều loại rượu ngâm, các bình thủy tinh xếp thành dãy ở góc phòng.

Thấy khách có vẻ ngạc nhiên, ông Thiển cười giải thích: “Tôi vốn là dân xây dựng, bây giờ chuyển sang kinh doanh nên có nhiều bạn bè, khách khứa. Rượu này là dành đãi anh em thân thiết. Còn tôi, mỗi buổi tối chỉ uống hai chén nhỏ”.

Mế Hạ khoe một mẻ cây thuốc tươi mới được làm   

Ông Thiển bật mí: “Đây là bài thuốc mà người dân vùng này “học lỏm” được từ dòng dõi nhà quan lang bao đời nay”. Nghe ông Thiển nói chuyện dễ dàng nhận thấy ông là người khá am hiểu văn hóa địa phương. Ông tự hào nơi mình sinh ra có những quan lang rất yêu thương dân.

Ông Thiển “dự trữ” nhiều rượu ngâm ró đất, bòi vịt để dùng và đãi bạn bè

Vì thế, ông vẫn kể cho con cháu nghe chuyện “khát xuống suối uống nước, đói lòng đến nhà lang”. “Không rõ quan lại thời xưa dưới xuôi ra sao, còn ở trên này, quan lang theo “chế độ” đa thê là phổ biến”. Ngay trên đất Thượng Bì, hậu duệ nhà lang vẫn đang sinh sống khá yên vui như bất cứ lương dân nào.Họ Quách ở Thượng Bì là dòng lang sa sút, bởi họ lành hiền hơn trong cuộc đấu đá quyền lực với dòng lang khác. Sau này, họ Quách đi theo cách mạng và có ông Quách Đình Chức từng làm Giám đốc Ty Bưu điện Hà Sơn Bình (cũ). Trước đó, bố của ông Chức là cụ Quách Đình Cường có hai bà vợ và cả hai bà đều mắn con. Ông nội của ông Chức có đến bốn bà vợ, mỗi bà đều đẻ sòn sòn bốn, năm người con.

Ông Thiển cười: “Dông dài lịch sử như vậy để thấy rằng, dân thường có mấy ai duy trì được sức khỏe để sinh sống cùng lúc với mấy bà vợ như dòng quan lang họ Quách khi xưa. Các ông ấy duy trì được “phong độ” chính là nhờ…vợ. Các bà ấy am hiểu về thuốc Nam nên rất biết cách duy trì sức khỏe cho chồng. Có một số người học lỏm được bài thuốc đó, sau này chế độ quan lang không còn nên mới phổ biến rộng rãi cho dân bản. Vì thế, người ta mới biết đến các vị thuốc không kém gì viagra thời hiện đại như bòi vịt và hoa đất.

Rượu ngâm ró đất, bòi vịt

Nhìn những miếng thân cây sắt lại trong bình rượu, chúng tôi không thể hình dung ra cây hoa đất như thế nào và cũng không thấy bóng dáng bông hoa nào trong đó. Ông Thiển ngâm nhiều rượu hoa đất, song ông chỉ biết đến nó lúc đã được thái mỏng, phơi khô. Còn cây tươi thì ông mách “phải đến nhà ông Quách Đình Thành trong xóm Khoai, xã Thượng Bì, là con cháu cụ Cường, cụ Chức. Ông Thành mất rồi nhưng bà vợ còn sống. Bà ấy là người làm thuốc Nam và hiểu biết về thuốc Nam nổi tiếng nhất nhì vùng này”.

Cây hoa đất và thuyết “ăn gì bổ nấy”

Lời mách về “hậu duệ nhà lang” đầy bí ẩn đã thêm một lần nữa đưa chúng tôi đến gặp mế Bùi Thị Hạ, bà chính là nàng dâu đời thứ tám, người có công giữ gìn và phát triển kiến thức thuốc Nam của dòng họ Quách. Mế Hạ có khuôn mặt phúc hậu, vẫn giữ nguyên những nét chất phác, thật thà của người Mường. Nhìn mấy lát hoa đất chúng tôi mang từ nhà ông.

Thiển đến, mế nheo mắt rồi nói: “Hoa đất là dịch sang tiếng Kinh thôi, chứ chữ hoa trong tiếng Mường là “ró”. Vì thế, đây là cây “ró đất”. Trong các sách viết về cây thuốc còn gọi là củ ngọt núi, cây không lá, xà cô, tỏa dương… Gần đây, tôi thấy nhiều người còn gọi nó là “nấm ngọc cẩu”, nhưng nó không phải là một loại nấm, mà chỉ có hình dáng giống cây nấm. “Ró đất” (tiếng Mường) thường mọc ký sinh trên những rễ của các cây có gốc lớn, sống ở sâu trong rừng”.

Cây ró đất lớn, hình trụ (cây đực)

Mế Hạ ngước nhìn tờ lịch trên tường và bảo: “Sắp đến mùa hoa rồi, từ tháng 10 đến tháng 2 (Âm lịch). Những người thợ rừng lành nghề cũng khó mà phát hiện ra “ró đất” khi nó không nở hoa. Một năm chỉ có năm tháng thu hái, nhưng dịp cận tết Nguyên Đán là lúc cây cho chất lượng tốt nhất. Ngày trước bà nội của chồng và mẹ chồng còn sống, tôi thường theo các cụ đi hái “ró đất” vào mỗi dịp gần Tết.

Nhưng bây giờ vị thuốc này khan hiếm lắm, hoa mới chớm nở là người đi rừng đã hái. Tôi phải mua từ đầu vụ, mang về rửa rất nhiều lần mới sạch đất, rồi mang ra thái mỏng, sao khô để dùng dần”. Trong sách vở cũng như kinh nghiệm trong dân gian bao đời, “ró đất” là vị thuốc có tác dụng bổ máu, giúp ăn ngon miệng, phục hồi sức khỏe, chữa nhức mỏi chân tay, đau bụng… Nhưng “ró đất” khi kết hợp với các vị khác thành bài thuốc chữa yếu sinh lý hoặc ngâm rượu uống hàng ngày thì có tác dụng bổ dương đáng ngạc nhiên.

Mế Hạ lấy tay xoa những miếng “ró đất” đen đen và nói: “Trông thế này thôi, chứ khi hoa nở thì cũng đẹp lắm. Cây này không có lá, thân màu đỏ sẫm, mang hoa ở trên đầu. Hoa mềm, không có cánh, có hoa to và hoa nhỏ (cách gọi dân dã là hoa đực và hoa cái). Hai loại hoa mọc theo cụm, tuy hình dáng, kích cỡ khác nhau nhưng trông đều giống bộ phận sinh sản của nam giới.

Cây ró đất nhỏ (cây cái) hình mũ

Vì thế mà trong Đông y mới có thuyết “ăn gì bổ nấy”. Cùng với bòi vịt, sâm cau, ró đất là vị thuốc không thể thiếu trong bài thuốc chữa yếu sinh lý ở nam giới. Vì tác dụng của nó là tăng sự cương cứng nên khi chữa yếu sinh lý ở nữ giới thì không cần vị thuốc này”.

Nghe về cây ró đất, bòi vịt mà chúng tôi nửa tin nửa ngờ. Mang điều “chưa tin lắm” ấy đến hỏi bà Bùi Thị Điển, nguyên Trạm trưởng Trạm y tế xã Thượng Bì thì bà khẳng định chắc nịch: “Trong xã có nhiều người biết về thuốc Nam, nhưng chỉ biết chữa một, hai loại bệnh. Chứ hiểu biết nhiều về thuốc Nam như mế Hạ thì quá hiếm. Từ xa xư, họ Quách nhà mế đã nổi tiếng với các bài thuốc chữa gan, thận và yếu sinh lý rồi. Vì thế, mế Hạ đã nói về cây thuốc như vậy thì khó sai lắm”.

 

Một số bài thuốc Bắc cũng sử dụng tỏa dương (ró đất)

Chữa hoạt tinh, di tinh, sinh lý yếu, mệt mỏi: Tỏa dương 120 g, tang phiêu tiêu 120g, long cốt 40 g, bạch phục linh 40 g. Tất cả tán mịn, hoàn to bằng hạt ngô, mỗi lần uống 15-20 g với nước muối loãng. Ngày uống hai lần.

Tỏa dương hoàn: Tỏa dương, hoàng bá, quy bản, hoàng cầm, đỗ trọng, ngưu tất, tri mẫu mỗi thứ 16 g, địa hoàng, đương quy mỗi thứ 10 g, phá cố chỉ, tục đoạn mỗi thứ 8 g. Tán bột mịn, trộn đều với rượu và hồ hoàn viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20 g. Thuốc có tác dụng bổ thận, nhuận trường, thông tiện; chữa các chứng đau lưng mỏi gối, các khớp đau nhức, đại tiện khô táo kết gây đau bụng, các bệnh xương khớp.

Các món ăn có tác dụng cải thiện sinh lý có thể tham khảo:

Sò huyết, giá đỗ xanh mỗi thứ 200 – 300g, giá đỗ rửa sạch trần tái, sò huyết đem nướng. Ăn liên tục 10 – 15 ngày. Nghỉ 3 – 5 ngày ăn nhắc lại 3 – 5 liệu trình.

Giá đỗ xanh 250g, thịt bò 50g. Tất cả rửa sạch trần tái ăn liên tục 10 – 15 ngày. Nghỉ một đến hai tuần, ăn nhắc lại, ăn liên tục vài liệu trình.

Hến 300g, hẹ 50g, gia vị đủ dùng. Hẹ rửa sạch, hến luộc chín gỡ thịt, lọc lấy nước bỏ vỏ. Đem nấu canh ăn với cơm tuần ăn 2 – 3 bữa liên tục 2 – 3 tháng.

Tôm càng 100g, hẹ 200g, gia vị đủ dùng. Tôm sơ chế đem xào với hẹ tuần ăn 2 – 3 bữa, liên tục 2 – 3 tháng.

Giá đỗ xanh 100 – 200g rửa sạch ngâm nước muối loãng 5 – 10 phút ăn sống 15 – 30 ngày.

Giá đỗ xanh 200g, trứng gà ta 3 quả. Giá đem trần tái, trứng gà luộc lòng đào ăn liên tục 7 – 10 ngày. Nghỉ 2 – 3 ngày ăn nhắc lại, ăn liên tục 3 – 4 liệu trình.

Thịt chó 100g, thục địa 32g, bạch truật 18g, đỗ trọng 18g, phá cố chỉ 6g. Bốn vị thuốc đem đun nhỏ lửa 1 -2 tiếng chiết lấy dịch bỏ bã. Thịt chó rửa sạch thái miếng vừa ăn. Tất cả đem hầm ăn hàng ngày…

Sau khi bài báo được đăng tải, có rất nhiều bạn đọc đã gọi đến toà soạn để hỏi về các vị thuốc quý xứ Mường, Kim Bôi, Hoà Bình. Bạn đọc muốn tìm hiểu sâu về các vị thuốc này, cũng như cách điều trị chứng yếu sinh lý bằng thuốc Nam có thể gọi cho mế Bùi Thị Hạ theo số 0121 53 53 533 để được tư vấn miễn phí.

(còn nữa)

Thượng Sơn

Gửi phản hồi