Sau 7 năm chịu nhiều điều tiếng, nhờ “thần được” xứ Mường, vợ chồng chị Quế đã 2 lần được “lên chức”

Tác dụng tăng dương khí không ngờ từ sâm cau

Trong cuốn “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, cố GS. Đỗ Tất Lợi có viết: “Sâm cau có tên khoa học là Curculigo orchioides Gaertn, thuộc họ Thủy tiên Amaryllidaceae. Một số vùng dân tộc ít người ở nước ta dùng rễ cây này làm thuốc bổ cho nên mới gọi là sâm, rồi vì lá giống lá cau nên mới có tên sâm cau. Tại Ấn Độ, rễ cây này cũng được coi là một vị thuốc bổ”.

Chúng tôi lần theo sách vở, nhờ bà mế Mường Bùi Thị Hạ (người được bà con xã Thượng Bì rất nể trọng về cách sống và sự am hiểu cây thuốc đất Mường) giúp đỡ tìm hiểu thực tế. Bà Hạ nói sâm cau là loại cây khá quen thuộc đối với những người làm thuốc Nam. “Nó còn được gọi là ngải cau, thân cao khoảng 40-60 cm, củ hình trụ. Cuống lá và đầu lá đều nhọn, nhìn từa tựa lá cau. Hoa màu vàng mọc thành từng cụm 3-5 bông; hoa không có cuống mà nằm trong bẹ lá. Qủa thuôn, dài, mỗi quả có 1-4 hạt phình ở đầu”.

Bà Hạ, người am hiểu thuốc Nam có tiếng của Mường Động, đang giảng giải cho PV

Trong các bài thuốc Nam của người Mường, củ sâm cau thường được dùng để chữa thận suy ở nam giới, tim lạnh, tinh trùng ít, liệt dương, sinh khí suy giảm… Vì sâm cau có vị cay, tính ấm, nên có tác dụng ôn bổ thận khí, tráng dương, ôn trung, táo thấp, tán ứ, trừ hàn thấp, mạnh gân cốt, điều hòa tiêu hóa.

Cũng theo bà Hạ thì “sâm cau cùng bòi vịt, ró đất là ba vị thuốc không thể thiếu trong bài thuốc chữa sinh lý của người Mường. Sâm cau có hai loại: Sâm cau đỏ, sâm cau đen. Phần củ và rễ thường gọi là tiên mao. Sâm cau thu hoạch quanh năm nhưng mùa thu cho chất lượng tốt nhất. Sâm cau đỏ và sâm cau đen có công dụng như nhau, nhưng sâm cau đỏ thơm và dễ uống nên tôi thường dùng loại này”.

Cây sâm cau đen.

Chuyện người chồng 7 năm chưa một lần “hoàn thành nhiệm vụ”

Để chứng thực cho công dụng của bài thuốc chữa sinh lý có nguồn gốc từ các loại thảo dược trên, chúng tôi đã đến xóm Ngheo (xã Thượng Bì) tìm gặp vợ chồng anh anh Bùi Văn Bảo (SN 1977) và chị Bùi Thị Quế (1979). Chị Quế có đôi mắt nâu lành hiền, giọng nhỏ nhẹ, nói tiếng Kinh ề ề, bẽn lẽn như con gái mới lớn.

Càng trò chuyện, càng thấy chị Quế chất phác, thật thà. Chị tâm sự rằng sau gần 20 năm chung sống (anh Bảo, chị Quế kết hôn năm 2000), chị vẫn nguyên vẹn tình yêu với chồng. Song suốt 7 năm đầu của hôn nhân, ngoài tình cảm, chị Quế không hề có một… cảm giác nào về sự thoả mãn. Những lần vợ chồng gần gũi, khi ham muốn của chị đang như lửa than thì đột ngột bị sững lại. Bởi anh Bảo, chồng chị mắc chứng “chưa đi chợ đã hết tiền”…

Cũng vì anh Bảo chưa bao giờ “hoàn thành nhiệm vụ” nên vợ chồng dù cưới đã lâu mà vẫn chưa có lấy một mụn con. Một năm, hai năm đầu, những người xung quanh chỉ hỏi thăm qua loa: “Đã có tin vui chưa?”. Nhưng sau, bố mẹ chồng chị quyết liệt hơn: “Cưới cũng lâu rồi, đẻ con thôi!” hay “Thế bao giờ anh chị định cho tôi bế cháu?”… Chị Quế nghe đủ lời nặng nhẹ mà không biết trả lời ra sao.

Củ sâm cau đỏ

Rồi ngọn lửa bao lần bừng cháy bị dội nước lạnh khiến chị quen dần, thậm chí trở nên lãnh cảm. Nhưng đối với người phụ nữ chân chất, quê mùa này điều đó không đáng sợ bằng áp lực về chuyện con cái. Bố mẹ chồng chị ban đầu còn thúc giục, sau bắt đầu bóng gió: “Đàn bà có mỗi việc đẻ cũng không làm được”. Rồi từ mặt nặng mày nhẹ, ông bà chuyển sang chì chiết, dằn hắt chị.

Anh Bảo là con một, nên càng ngày chị Quế càng phải chịu đựng những lời soi mói của xóm giềng, những lời nhiếc móc của bố mẹ chồng. Tất cả đều nhất nhất đổ lỗi tại chị. Chị Quế thảng thốt nhắc lại những tháng ngày sống trong tủi nhục: “Tôi không biết nói thế nào để diễn tả hết những khổ sở mà mình phải chịu đựng suốt 7 năm. Tôi chỉ biết khóc chứ không dám mở miệng để giải thích, thanh minh”.

Có lần, bố mẹ chồng còn xếp quần áo, chăn màn của chị Quế đuổi đi, chỉ vì tội… “không biết đẻ”. Họ còn tung tin chị bỏ chồng ra đi, “để thằng Bảo lấy vợ khác, cho nhà tôi có cháu nối dõi”. Chị Quế cũng không ít lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ. “Nhưng lần nào anh Bảo cũng chạy theo nói em thương anh, đừng bỏ anh nên tôi lại quay về”, chị Quế kể lại. ‘

Thương vợ, anh Bảo cũng nhiều lần đến bệnh viện thăm khám và nhận được kết quả xét nghiệm “số lượng tinh trùng quá ít, tinh trùng lại yếu”. Sau nhiều đợt uống thuốc điều trị theo chỉ dẫn nhưng không có kết quả, anh Bảo đã chán nản mà bỏ dở giữa chừng.

Liên tiếp nhận tin vui chỉ sau 3 tháng

Để tránh mặt bố mẹ chồng, khỏi phải nghe lời chì chiết, gà chưa gáy sáng, chị Quế đã vội đi nương. Chị dúm theo cả cơm nắm để ăn trưa trên rừng, chứ không dám về nhà. Nỗi buồn của chị cứ thao thiết như dòng nước ngoài khe suối: “Cả đứa trẻ trâu nhìn thấy tôi đi nương còn móc mỉa “cau thối, cau điếc không đẻ được”.

Nghe đứa trẻ nói thế, tôi cứ khóc mãi, thấy số mình sao khổ quá. Có bà mế già biết chuyện mới mách: “Cứ đến nhà bà Hạ dưới xóm Khoai mà xin thuốc là tin vui sẽ đến. Làm gì mà phải khóc”.

Sâm cau đỏ khi thái lát, phơi khô

Đến nhà bà Hạ, chị Quế ấp úng mãi mới dám trút nỗi niềm. Nhưng ngày hôm đó, chị Quế không lấy được thuốc, vì sâm cau, bòi vịt, ró đất thì có sẵn nhưng lại thiếu các loại cây thuộc họ lậu tinh, cây xạ vàng. Vì thế, bà Hạ phải hẹn chị trở lại sau 5 ngày. Có được bài thuốc quý, chị Quế khấp khởi, lén mang về nấu cho chồng uống.

Lần gần gũi đầu tiên sau khi chồng uống hết 10 ấm thuốc, chị Quế mới biết thế nào là cảm giác thăng hoa. Đều đặn những ngày sau đó, anh Bảo luôn “hoàn thành nhiệm vụ”. Chị Quế đỏ mặt: “Phải 7 năm sau khi cưới, tôi mới biết “chuyện vợ chồng” khiến mình hạnh phúc đến thế nào”.

Còn đang lâng lâng trước cảm giác mới mẻ về sự hòa hợp diệu kỳ của cả tâm hồn và thể xác thì phép màu đã đến với hai vợ chồng: Chị Quế mang thai sau gần 3 tháng anh Bảo uống thuốc của bà Hạ. Khi biết mình có thai, chị Quế đã khóc như mưa. Chị vội vàng bảo chồng chở đến nhà bà Hạ để cảm ơn. “Vợ chồng tôi cảm ơn và xin được hậu tạ nhưng mế Hạ gạt đi. Mế nói tôi mang thai được là nhờ mẹ rừng cho cây thuốc, chứ có phải do mế đâu mà nhận”.

Ôm hai con vào lòng, bà mẹ mặt đã bắt đầu có những vết sạm nám không giấu nổi ánh mắt lấp lánh hạnh phúc. “Từ ngày xin được thuốc của mế Hạ đến nay, “đời sống vợ chồng” của chúng tôi luôn viên mãn. Tôi hai lần mang bầu và sinh được 1 gái, một trai.  Cháu gái năm nay 10 tuổi, còn cháu trai mới 7 tuổi” – chị Quế đỏ mặt nói.

 

Bà Hạ cho biết, ngoài việc kết hợp với các vị thuốc khác để chữa yếu sinh lý, sâm cau cũng thường được dùng để duy trì và cải thiện khả năng phòng the bằng cách đơn giản như ngâm rượu. Bài thuốc này gồm: 50g sâm cau xắt lát mỏng, phơi sấy khô, sao vàng; ngâm với 500ml rượu gạo trong 7-10 ngày. Uống 2 lần trong 2 bữa ăn chính, mỗi lần khoảng 30ml.

Tuy nhiên, sâm cau dùng liều cao và kéo dài sẽ gây chứng cường dương quá mạnh, dẫn tới hao tổn tinh lực. Những người có thể trạng âm hư hỏa vượng (người gầy, da khô, lòng bàn tay, bàn chân ấm, thường sốt nhẹ vào buổi chiều, ra mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện vàng đỏ, nóng bứt rứt trong người, phiền muộn…) thì không nên dùng sâm cau. Các bệnh nhân có vấn đề về sinh lý, muốn dùng thuốc Nam để chữa trị tốt nhất nên tham khảo ý kiến của các thầy lang Mường có kinh nghiệm.

Ngoài công dụng chữa yếu sinh lý, sâm cau còn được dùng trong một số bài thuốc khác như:

Chữa hen, tiêu chảy: Rễ sâm cau phơi khô, xắt lát mỏng, nhỏ, sao vàng. Dùng 12 – 16g, nấu với 250ml nước, sắc còn 50ml, uống một lần trong ngày, trước bữa ăn.

Chữa tê thấp, đau nhức toàn thân: Sâm cau, hà thủ ô đỏ (chế đậu đen), hy thiêm thảo (cỏ đĩ), mỗi thứ 20g, xắt nhỏ, ngâm với 500ml rượu trắng, ít nhất trong 7 – 10 ngày (càng lâu càng tốt). Ngày uống hai lần, mỗi lần 30ml, trước bữa ăn.

Chữa sốt xuất huyết: Sâm cau 20g (sao đen), cỏ mực 12g, trắc bá diệp 10g (sao đen), chi tử 8g (sao đen). Nấu với 600ml nước, sắc còn 200ml, chia làm 2 – 3 lần uống trong ngày, trước bữa ăn.

Hoặc dùng sâm cau để chế biến món ăn – bài thuốc:

Thịt gà nấu sâm cau: Nguyên liệu là thịt gà 250g, sâm cau 15g, dâm dương hoắc 15g. Gia vị các loại.

Cách làm: Thịt gà rửa sạch, cắt miếng vừa ăn, ướp gia vị, để khoảng 20 phút cho thấm. Hai loại dược liệu rửa sạch. Tất cả cho vào nồi đất, nấu với lượng nước vừa đủ, đến khi thịt gà chín mềm. Nêm lại gia vị vừa ăn. Ăn khi còn nóng. Tác dụng của món ăn này bổ thận dương, bổ khí huyết, tăng cường sinh lực, trừ phong thấp. Nó rất có ích cho người bị rối loạn cương dương thể thận dương hư, đau lưng mỏi gối.

Sau khi Báo ra, có rất nhiều bạn đọc gọi điện đến toà soạn hỏi về bài thuốc cường dương, điều trị hiếm muộn do yếu sinh lý gây nên từ các thảo dược xứ Mường. Chúng tôi xin cung cấp số điện thoại của gia đình mế Bùi Thị Hạ là 0121 53 53 533 để bạn đọc tiện liên hệ và tư vấn miễn phí.

(còn nữa)

Thượng Sơn

Gửi phản hồi