Cuốn sách Pháp Phật diệu màu của NXB Văn hóa Dân tộc, in năm 2015, nhiều cư sỹ đã lý giải nguyên nhân khỏi bệnh do tu tập, ăn chay và tác ý

 

Tại sao chỉ cần “nhập thất, độc cư, tu tâp” mà nhiều người đã khỏi bệnh một cách kỳ diệu, trong khi họ không dùng một viên thuốc nào? Có pháp thuật thần thông nào ở đây không? Bất kỳ ai muốn tu tập để giữ tâm thanh thản an lạc, giữ gìn sức khỏe hay trị bệnh thì họ phải làm theo như thế nào? Sau đây là một vài lý giải do những người am hiểu, có uy tín, có trải nghiệm về pháp tu của Phật giáo Nguyên thủy cung cấp, chia sẻ.

Bí quyết chính là lời Đức Phật dạy: “Các con tự thắp đuốc lên mà đi”

Là một đại tá có uy tín, từng nhiều năm công tác trong lực lượng vũ trang tại Hà Nội, ông Lã Ngọc Tỉnh đã chia sẻ nhiều tư liệu và trải nghiệm xúc động mà TT&ĐS đã trích đăng ở số báo trước. Sau cuộc đối thoại, ông còn Tỉnh gửi đến chúng tôi những dòng “tham luận” tâm huyết, lý giải việc khỏi bệnh nhờ tu tập của cư sỹ, phật tử theo giới luật mà loạt bài này đang đề cập. TT&ĐS xin được trân trọng trích đăng một đoạn:

“Người cư sĩ, phật tử có 5 giới: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và các chất kích thích khác. Người xuất gia có 10 giới, ngoài 5 giới như người cư sĩ còn có thêm 5 giới nữa: Không ngủ nghỉ giường cao rộng lớn, không ăn uống phi thời, không tự ca hát và nghe ca hát, không trang điểm, không cất giữ tiền bạc. Tỳ kheo tăng (tu sĩ nam) có 250 giới. Tỳ kheo ni (tu sĩ nữ) có 348 giới.

Nhà sư Thích Mật Hạnh thuyết giảng Phật pháp

Người tu theo Phật giáo từ cư sĩ đến tu sĩ nếu giữ gìn giới luật tinh nghiêm (không vi phạm một lỗi nào, dù là nhỏ nhất) và tu tập theo đúng pháp môn của Phật thì sẽ có Định, khi đã có Định thì Tuệ xuất hiện (Giới sinh Định – Định sinh Tuệ). Giới luật là ngõ hầu của đạo Phật, nếu tu theo Phật giáo mà phạm giới thì dù có tu muôn đời ngàn kiếp cũng chẳng đạt kết quả gì.

Đức Phật dạy: “Các con tự thắp đuốc lên mà đi, ta không đi thay cho các con được”. Như vậy, người tu theo đạo Phật phải bằng chính sức tự lực của mình, phải siêng năng, chuyên cần, tinh tấn, giữ gìn giới luật nghiêm túc, tu tập theo đúng lộ trình bát chánh đạo, 37 phẩm trợ đạo thì sẽ đạt kết quả tốt đẹp.

Tu tập ít thì kết quả ít, tu tập nhiều thì đạt kết quả nhiều, không tu tập thì không có kết quả. Đức Phật dạy: “Pháp ta thiết thực hiện tại, không có thời gian đến để mà thấy”. Đức Phật chỉ dạy có ba nơi xuất phát nhân quả: Thân, Miệng, Ý.

+ Thân có ba ý: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm

+ Miệng (khẩu) có bốn ý: Không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lật lọng, không nói độc ác.

+ Ý có ba ý: Không tham lam, không sân hận, không si mê.

Tổng cộng là 10 điều. Người tu theo đạo Phật thực hiện đầy đủ nghiêm túc 10 điều trên, gọi là 10 điều lành thì thân tâm lúc nào cũng khỏe mạnh, than thản, an lạc, vô sự. Trong cuộc sống ít ốm đau, bệnh tật, luôn gặp may mắn, gặp việc gì cũng thuận buồm xuôi gió, gia đình hạnh phúc yên vui. Ngược lại, sống không đúng 10 điều lành, tức là 10 điều ác thì thường bị ốm đau bệnh tật, rủi ro, tai nạn, làm việc gì cũng bất toại nguyện…

Đức Phật dạy: “Gieo nhân nào gặt quả ấy, không gieo nhân thì không có quả”. Bởi vậy, người tu theo Phật giáo Nguyên thủy rất sợ nhân quả ác, họ chỉ làm các điều lành, tuyệt đối tránh xa các điều ác. Khi bị ốm đau bệnh tật, người tu theo Phật giáo Nguyên thủy đã sử dụng các pháp môn của Phật để đoạn trừ bệnh tật mà không phải dùng đến sự can thiệp của y học. (…)

Một cụ bà người Hải Phòng, độc cư trong thất ở chùa Ngọc Thanh, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Bệnh tật, khổ đau đều do nhân quả nghiệp sinh ra (quá khứ hoặc hiện tại). Chưa có bệnh thì họ ngăn chặn (phòng ngừa) không cho bệnh xảy ra, khi đã có bệnh thì họ diệt, không cho bệnh phát triển tức là họ tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần (ngăn ác, diệt ác, sinh thiện, tăng trưởng thiện). Pháp như lý tác ý là pháp môn dẫn tâm từ pháp môn này đến pháp môn khác, đuổi bệnh tuyệt vời, được ví như thanh “thư hùng kiếm”, chém đá như chém bùn.

Khi bị bệnh thì dùng pháp như lý tác ý để đuổi. Có hai cách tác ý đuổi bệnh: Một, ngồi bán già hoặc kiết già, lưng thẳng, mắt mở, nhìn về phía trước 1 thước, hai bàn tay giao nhau để lên giữa 2 bàn chân. Ví dụ: Bị bệnh đau đầu thì tác ý (nói thầm ở trong đầu) “Thọ là vô thường, cái bệnh đau đầu này hãy ra khỏi thân ta, an tịnh thân hành tôi biết tôi hít vô, an tịnh thân hành tôi biết tôi thở ra”.

Như vậy, bệnh đau đầu sẽ an trú, nương theo hơi thở ra ngoài, chỉ trong một thời gian ngắn bệnh đau đầu sẽ hết. Hai, cũng ngồi như trên nhưng khi tác ý xong thì đưa tay ra, tay trái hay tay phải (tay nào đưa ra cũng được), ví dụ “cái bệnh đau đầu hãy theo tay này ra ngoài, sức khỏe hãy theo tay này vào trong thân”. Lưu ý: Tác ý xong rồi mới đưa tay ra, đưa tay vào. Khi xong tay này thì đến tay khác, bệnh sẽ an trú nương theo cánh tay ra ngoài.

Ý rất quan trọng, ý như người chỉ huy ra lệnh, tạo nên một nội lực rất mạnh. Đức Phật dạy: “Ý làm chủ, ý tạo tác, ý dẫn đầu các pháp”.

Muốn đuổi được bệnh phải thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Phải có lòng tin tuyệt đối (tín lực).
  • Phải giữ giới tinh nghiêm.
  • Phải siêng năng, bền gan, vững chí.
  • Các câu trạch pháp phải chuẩn và phù hợp với bệnh tật.

Hơi thở ra, hơi thở vào, cánh tay đưa ra, cánh tay đưa vào phải nhịp nhàng, nhuần nhuyễn”.

Không có gì thần bí, người tu tập khỏi bệnh vì các lý do rất khoa học!

Ông Đỗ Hữu Ngân, pháp danh Thích Minh Đạo đã lý giải nguyên nhân những người tu tập “khỏi bệnh không cần thuốc” trong cuốn “Pháp Phật diệu màu” được NXB Văn hóa Dân tộc chính thức phát hành vừa qua, chúng tôi xin được lược trích để phục vụ độc giả. Ông Ngân tiết lộ, mình từng mang bệnh mãn tính đáng sợ, “từng chạy chữa theo Đông y, Tây y, nhưng bệnh không khỏi, tôi đành chấp nhận sống chung với bệnh”.

Nhưng khi tu tập theo pháp tu của trưởng lão Thích Thông Lạc, bệnh rời bỏ lúc nào mà ông Ngân cũng không biết. Quá kỳ diệu, ông Ngân muốn chia sẻ phương pháp này với nhiều người, nhưng ông không biết làm thế nào để họ tin tưởng ông, ông sợ họ cảm thấy “vô lý” trước sự diệu màu của Pháp Phật. Thế là ông ra sức tìm hiểu, ông gặp rất nhiều người từng tác ý đuổi bệnh thành công, họ sống sót qua các bệnh tật hiểm nghèo đến khó tin nhất.

Sự thật chỉ có một và người khỏi bệnh quá nhiều, là nhân chứng thuyết phục đến mức không tin cũng phải tin. Ông Ngân đọc thêm sách vở, hỏi nhiều người, cộng thêm thực chứng khỏi bệnh của chính bản thân, ông đã tự tin công bố những tài liệu khiến nhiều người bị thuyết phục hoàn toàn về tính tích cực đuổi bệnh của tu tập “tác ý đuổi bệnh” theo Phật giáo Nguyên thủy.

Ông Ngân nói: “Chúng ta có thể dễ dàng lý giải vì sao chúng ta khỏi bệnh và tại sao đạo Phật lại có thể chữa bệnh, làm chủ bệnh mà không cần dùng đến thuốc qua các bước tập luyện như sau: Nuôi lớn niềm tin, thay đổi môi sinh, bình tĩnh trước bệnh tật, rèn luyện ý chí mãnh liệt để tác ý đuổi bệnh…”.

Chân dung Trưởng lão Thích Thông Lạc

Cụ thể, khi có bệnh, người ta cần niềm tin đặc biệt vào Phật pháp để kiên trì kiêng khem, giữ tâm và thân mình trước những xúc cảm hay các thức ăn có thể gây thêm bệnh hoặc làm bệnh thêm nặng.

Niềm tin cần tuyệt đối, nó là tín lực, là sức mạnh để người ta thành công trong chay tịnh, tu tập, giữa sự an lạc, tạo nên sức mạnh đuổi bệnh tật. Khi đã có niềm tin, thì giới luật của pháp tu này sẽ được các cư sỹ, tu sỹ thực hiện nghiêm cẩn. Mà các pháp tu đó đều có giá trị đuổi bệnh một cách hết sức khoa học, không có gì huyền bí cả. Ví dụ việc ăn chay đúng cách.

“Ai cũng biết chúng ta cần ăn để sống, mà thực phẩm để nuôi sống chúng ta chính từ nguồn sống của các loài thực vật, động vật đưa vào cơ thể. Do vậy, việc chúng ta cần ăn để sống, chính là chúng ta đi vay mượn sự sống từ bên ngoài, để nuôi dưỡng sự sống của chúng ta. Luật vũ trụ công bằng hễ có vay phải có trả…”. Việc giết hại động vật, chúng ta cứ nợ và chúng ta sẽ phải trả khi đáo hạn đủ duyên. Đó là ý nghĩa nhân quả.

Còn về vấn đề mang tính khoa học và cụ thể hơn nữa, đó là bệnh tật từ miệng vào. Người ta phải nghĩ rằng, ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Cần tiết chế việc ăn uống vô độ.

Ông Ngân phân tích: “Khi có tiền, mọi người đều nghĩ làm sao ăn cho thật ngon, ăn cho thật nhiều để khoái khẩu… Những thực phẩm được chế biến từ động vật mà chúng ta ưa thích, khi đưa vào cơ thể, chúng đâu được hấp thụ hết, phần còn lại sinh hư thối gây mầm bệnh trong đường ruột chúng ta.

Vì thế, chúng ta càng ăn nhiều thịt cá, đến một ngày phát sinh không bệnh nọ thì tật kia, phải chạy chữa thuốc thang tốn tiền của mới khỏi, nếu như duyên nghiệp với cuộc đời chưa hết. Hoặc lúc duyên nghiệp hết, thân hoại mạng chung, nghiệp ác do ăn thịt chúng sinh tiếp tục dẫn dắt chúng ta đi nhận lãnh những quả khổ đau khác trong tương lai.

Khi chúng ta đã có ý thức không dùng thịt, cá làm thực phẩm để nuôi dưỡng thân mạng, là thể hiện việc chúng ta đã chuyển hóa nhận thức sâu sắc để tự biết thương mình, qua đó, biết yêu thương cả muôn loài.

Việc ăn chay là kết quả của một hành động cao thượng. Người xưa dạy “đức năng thắng số”, với đạo đức của người biết ăn chay, mọi cấu uế được tiêu trừ. Ăn chay là liệu pháp để chữa lành tâm bệnh và cả thân bệnh rất tuyệt vời”.

Bên cạnh việc ăn chay, phương pháp giữ tâm hồn thanh thản, vô sự và an lạc cũng rất hữu ích trong đuổi bệnh. Khi chúng ta mắc phải bệnh tật, thì cũng như đang có thù trong giặc ngoài vậy. Muốn đánh giặc ngoài thì trước hết phải diệt thù trong. Vì khi bị bệnh tật, tâm lý của chúng ta thường lo lắng, buồn phiền, sợ hãi thái quá.

Trạng thái tâm lý nặng nề (thù trong) này đã kết hợp với bệnh tật (giặc ngoài) cùng làm hại ta. Cho nên, khi tâm đã thanh thản, an lạc, vô sự trước mọi biến động của cuộc đời, thì đó là lúc tâm ta buông xả được mọi chấp trước, bám víu vào mọi thứ mà vì nó tâm hồn ta dễ tổn thương, đau khổ. Khi chúng ta luôn thanh thản, an lạc để đối mặt với bệnh tật, thì tức là tâm bệnh của ta đã khỏi, lúc đó bệnh tật không còn là điều đáng quan ngại nữa.

Lúc đó, người tu tập sẽ tác ý đuổi bệnh, thì rất hiệu quả. “Bệnh tật vào thân ta như kẻ lạ mặt, nếu ta kiên trì tu tập (đủ niềm tin, ăn chay, giữ tâm hồn thanh thản – an lạc, tác ý đuổi bệnh kiên trì) thì mọi bệnh tật đều phải rời khỏi thân ta một cách rõ ràng. Không có gì thần bí ở đây. Ngay dưới ánh sáng của khoa học soi tỏ, cũng giúp phần nào lý giải phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc của đạo Phật”, ông Ngân viết.

Và ông lý giải bằng trường sinh học trong con người: “Nhà khoa học Nga Kirlian là người đầu tiên chụp được ảnh của trường sinh học bằng kỹ thuật chụp ảnh trong điện trường cao tần. Ông chụp bàn tay nhà ngoại cảm chữa bệnh, thấy xung quanh bàn tay có hào quang với ánh sáng xanh lạnh, nhưng đưa bàn tay ấy vào gần đầu người chụp ảnh, người này có cảm giác rất nóng như đang đứng cạnh bếp lửa.

Phân tích ngọn lửa xanh của hào quang cho thấy có ít bức xạ tử ngoại và hồng ngoại thông thường. Nhà ngoại cảm tập trung tư tưởng cao độ, bức xạ tử ngoài và hồng ngoại tăng lên gấp trăm lần, và sẽ giảm xuống khi nhà ngoại cảm thấm mệt. Qua nghiên cứu cho thấy, năng lượng trường sinh học của con người có thể làm nụ hoa nở sớm hơn, hạt giống cây đậu nảy mầm nhanh hơn, khỏe hơn”.

Cuốn sách đã trích dẫn lời của TSKH Đoàn Xuân Mượu trong cuốn “Chúng ta là ai” do NXB Thanh Niên ấn hành năm 2010 để đi đến kết luận như sau: “Một khía cạnh khác của trường sinh học là nó cũng thể hiện ở mức độ tế bào. Mỗi tế bào đều có sinh trường của mình và liên thông với sinh trường của toàn cơ thể.

Trong cơ thể người ta luôn có cuộc đấu tranh giữa các tế bài tái sinh phát triển bình thường và tế bào phát triển không bình thường (tế bào bệnh), như là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác. Nếu sinh trường được tăng cường, thì tế bào tái sinh có thể đè bẹp, lấn án quá trình bệnh hóa, ung thư hóa, phục sinh cơ thể, giữ gìn sức khỏe, kéo dài tuổi xuân và tuổi thọ”.

Ông Ngân nhấn mạnh, trường sinh học của mỗi người mạnh hay yếu phụ thuộc vào sức khỏe và ý chí của mỗi người (khi tập trung tư tưởng thì trường sinh học đó lớn gấp trăm lần, giảm đi khi bị yếu mệt).

Cuốn sách Pháp Phật diệu màu của NXB Văn hóa Dân tộc, in năm 2015, nhiều cư sỹ đã lý giải nguyên nhân khỏi bệnh do tu tập, ăn chay và tác ý

Câu chuyện người cư sỹ, phật tử tu tập, nghiêm giới luật, có niềm tin lớn, có sự an lạc trong tâm và biết quyết tâm dồn tâm sức tác ý đuổi bệnh… thì trường sinh học của họ tăng, bệnh tật vơi đi là dĩ nhiên. Kết hợp với việc ăn uống kiêng khem, khoa học, “không làm khổ mình, khổ người và khổ chúng sinh”, thì bệnh tậtvđược đẩy lùi là không có gì khó hiểu.

Những cư sỹ kể trên, họ đều xuất phát là người có bệnh, được chứng thực sự thoát khỏi bệnh tật của mình sau quá trình tu tập thanh thản an lạc, không cần một viên thuốc nào, không tốn một đồng tiền nào.

Với lòng tốt của mình, họ muốn nhiều người biết đến cái hạnh phúc của giới luật người cư sỹ sống vui, khỏe, sống tốt đời đẹp đạo. Họ chia sẻ với chúng tôi, không gì hơn là vì muốn gieo thêm điều tốt cho những người đang mang bệnh hoặc đang vướng vào sầu khổ của vòng luẩn quẩn tham sân si. Và chúng ta dường như không có lý do gì để không tin vào lòng tốt của họ.

3 anh em cùng  chữa bệnh liệt rung parkinson bằng “như lý tác ý”

Ông Nhữ Văn Ứng (SN 1960, ở Bình Giang, Hải Dương) kể: “Tôi bị bệnh parkinson cách đây khoảng trên 20 năm rồi. Ban đầu nó bị từ từ, rồi nó run ầm ầm, tôi đi xe đạp toàn ngã dúi dụi, cầm đũa cầm bát cứ rơi vỡ loảng xoảng. Nhưng bây giờ tôi tu tập theo pháp môn Phật giáo Nguyên thủy, kết quả rất vi diệu.

Tôi mới bắt đầu tập từ ngày 2/9/2014. Gần đây tôi đi xe không ngã nữa và người khỏe hẳn ra. Trước tôi đi khám nhiều nơi lắm, đến cả Viện Lão khoa Trung ương ở Hà Nội. Tôi vốn là giáo viên cấp III, dạy môn toán. Nhà tôi có 6 anh em, thì tới 3 người bị bệnh parkinson. Trước khi đến với pháp tu này, bệnh chữa mãi không khỏi, tôi và gia đình đã tổ chức cúng vàng mã rồi tạ mộ, mê tín dị đoan các kiểu.

Làm mọi thứ nhưng cuối cùng bệnh chỉ ngày một nặng thêm. Sau đó tôi được người bạn ở Hà Nội giới thiệu cho pháp môn này và từ đó tôi đọc rất kỹ. Đến tháng 9 năm nay, việc tu tập của tôi mới được 3 năm. Kết quả tôi thấy rất tốt. Tôi đã có thể đi đứng ngay ngắn, cầm bát ăn cơm đã không còn bị rơi vỡ.

Trước đây, tôi uống thuốc quanh năm, mỗi ngày 4 viên, sau xuống còn 1 viên và giờ thì tôi đang cố gắng không uống nữa mà vẫn có thể đuổi bệnh được theo pháp “như lý tác ý” của trưởng lão Thích Thông Lạc, như lời Phật dạy. Với đà này thì không bao lâu nữa, tôi sẽ khỏi hẳn bệnh thôi.

Với tôi, phương pháp như lý tác ý đuổi bệnh, giống như chất đề kháng chống lại bệnh tật, nó cho tôi sự an lạc, vui vẻ, giúp tôi có thêm nhiều nghị lực ở trong người, tránh đi cái ác pháp. Cho nên việc giữ giới luật rất quan trọng. Cả 3 anh chị em tôi đều tu tập để chữa bệnh parkinson. Tôi chỉ mong mọi người trên thế giới này biết đến pháp tu tập trị bệnh này.

Ngày xưa, nếu nhà báo gặp tôi thì trông tôi buồn cười lắm, bệnh liệt rung khiến tôi ngã là không đứng dậy được. Nhiều tình huống bi hài đến mức bây giờ diễn tả lại cũng vô cùng khó khăn. Bây giờ thấy tôi khỏe mạnh, đi xe đạp đi chơi, mọi người ngỡ ngàng, hàng xóm không nghĩ tôi thay đổi tích cực được như vậy.

Tôi có hai người con, một trai và một gái. Con gái đang làm bác sĩ Đông y, nó châm cứu bấm huyệt giỏi lắm. Nhưng tôi cũng không nhờ, vì tôi đã có pháp môn này rất hiệu quả. Tôi cứ tập trung vào phương pháp đuổi bệnh “như lý tác ý”, pháp Phật diệu màu thật sự. Ban đầu các cháu chưa hiểu còn nghi ngờ, nhưng bây giờ thì thấy bệnh của tôi tiến triển tốt, ai cũng ủng hộ. Vừa rồi tôi lên chùa Chi Đông ở Hà Nội (nơi có thất tu để độc cư), vợ tôi cũng đi cùng để nghe và tìm hiểu”.

(Hết)

TRẦN QUÂN 

Gửi phản hồi