Lương y Nguyễn Thế Tài

“Lương y từ thiện”

Lương y Nguyễn Thế Tài (64 tuổi, ở xã Phong Phú, huyện Bình Chánh, TP.HCM) là thầy thuốc Đông y tài năng và tâm huyết. Ông được các đồng nghiệp và những người quen biết gọi với biệt danh “lương y từ thiện”. Ông đã có gần 40 năm chữa bệnh từ thiện cho người nghèo. Không chỉ chữa bệnh từ thiện, ông còn vận động kinh tế giúp đỡ những cảnh đời khó khăn mà ông biết.

Lương y Huỳnh Cẩm Lương (Hội Đông y quận 8) chia sẻ: “Tôi đã nhiều năm phụ thầy trong các chương trình từ thiện do thầy phát động. Đi một chương trình với thầy thì muốn đi tiếp những chương trình sau nữa, bởi thầy làm từ thiện thuần khiết và hữu ích lắm. Chứng kiến việc thầy làm, ai cũng cảm động. Là người tổ chức chương trình, cũng tiên phong bỏ tiền túi ra (dường như là nhiều nhất), thầy không bao giờ đứng chỉ tay năm ngón mà lăn lộn khiêng vác với anh em.

Dù đã cao tuổi nhưng dường như thầy là người làm nhiều nhất nữa. Thầy là “sư phụ” của chúng tôi về chuyên môn mà tâm làm từ  thiện nhiệt huyết và trong sáng vậy nên chúng tôi học theo được nơi thầy rất nhiều. Nhìn thầy lăn lộn trong các chương trình từ thiện vì người nghèo, ai trong chúng tôi cũng cảm động cả”.

Dù được mọi người tán thưởng vì những hành động thiện nguyện cho người nghèo, nhưng thầy Nguyễn Thế Tài rất khiêm tốn. Trong câu chuyện với PV, giọng trầm ấm của vị lương y từ tâm thi thoảng hào hứng lên khi nhớ về những chuyến từ thiện mà ông cùng những bạn bè, đồng nghiệp thực hiện ở các tỉnh miền Tây trong những năm qua.

Sỏi thận là căn bệnh rất nhiều người mắc phải

Lương y Tài chia sẻ, điều sung sướng nhất của một người làm từ thiện như ông là thấy người nghèo vui sướng cầm những phần quà mình phát trên tay với nụ cười rạng rỡ. Còn thời gian chuẩn bị trước chuyến đi là vô cùng cực khổ xen lẫn cả mồ hôi và đôi lúc là cả nước mắt của sự hiểu lầm cùng nhiều chuyện khác bên lề. Nhưng, dù hiểu lầm hay những than trách, những khó khăn bên lề, ông cũng cố gắng gạt đi hết vì người nghèo.

Ông bảo một người làm từ thiện nếu để cái tôi quá lớn, tự ái quá cao thì dễ hỏng việc lắm. Hỏng việc của mình thôi thì không sao, nhưng nếu chương trình từ thiện mà không có người ủng hộ thì tội người nghèo lắm. Bởi thế, nghĩ về người nghèo, ông sẵn sàng “cúi xuống”, trở nên nhỏ bé để người nghèo có được phần nào sự an ủi trong cuộc sống.

Ngoài chữa bệnh từ thiện cho bệnh nhân và tổ chức các chương trình từ thiện, lương y Tài còn dành thời gian nghiên cứu các căn bệnh cũng như các bài thuốc trị các căn bệnh thường ngày. Với mỗi căn bệnh, ông luôn tìm hiểu, nghiên cứu kỹ càng thể trạng của từng bệnh nhân. Ông còn soạn thảo giáo trình trên cơ sở thực tiễn để tận tình chỉ dạy cho những lương y trẻ, những sinh viên y học cổ truyền vừa mới ra trường. Bởi thế, phong trào Đông y ở địa phương ông công tác phát triển rất mạnh.

Lương y Tài bộc bạch: “Hơn một năm nay, do sức khỏe hơi yếu và bệnh tật nên tôi mới ít đi chữa bệnh từ thiện ở xa. Thế nhưng, ở phòng mạch của mình, những bệnh nhân khó khăn, tôi vẫn chữa bệnh từ thiện cho họ. Mỗi tuần, tôi cũng dành một buổi phụ đạo thêm kiến thức Đông y cho những sinh viên mới ra trường.

Những kiến thức sách vở không mang lại nhiều giá trị cho các em đâu, chỉ có thể vừa chỉ dạy vừa cho các em thực tế lâm sàng luôn thì sau này các em mới vào nghề được. Tôi nay yếu rồi thì truyền lại những kinh nghiệm lâm sàng của mình và mong các em tiếp bước tôi trong công việc khám chữa bệnh  cũng như chữa bệnh từ thiện”.

Lương y Tài được trao tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp đông y

Những bài thuốc đặc trị bệnh sỏi thận

Về bệnh sỏi thận, lương y Nguyễn Thế Tài cho biết, sỏi thận, sỏi đường tiết niệu hay sỏi bàng quang là cách  y học hiện đại gọi, còn y học cổ truyền gọi nó là sạn thận. Đây là một trong những căn bệnh nhiều người mắc phải và cũng là một căn bệnh phức tạp.

Mỗi bệnh nhân lại ứng với một thể riêng, không ai giống ai. Bởi căn bệnh có đến 5 thể chính: thể sa lâm, thạch lâm, huyết lâm, cao lâm và cuối cùng là khí lâm. Ứng với mỗi thể bệnh lại có một phép trị khác nhau.

Thứ nhất, thể sa lâm là thể nhẹ nhất của bệnh sạn thận. Triệu chứng lâm sàng của những bệnh nhân này là thấp nhiệt, đọng ở hạ tiêu làm cho khí nhiều điều không thông, hoặc nóng nhiệt ở tâm và ở tiểu trường dồn xuống hạ tiêu làm cho đi tiểu nhiều, nước tiểu vàng, đỏ, bị đau bụng. Phép trị là thanh nhiệt, tá hỏa.

Bài thuốc: Cam thảo 6g, hoạt thạch 8g, chi tử (sao đen) 8g, biển súc 8g, cù mạch thảo 8g, mộc thông 8g, sa tiền 8g, đại hoàng 8g, đăng tâm thảo 8g. Sắc ba chén nước còn 8 phân uống ngày 2 lần sau ăn nửa tiếng.

Thứ hai, thể thạch lâm có triệu chứng lâm sàng là thấp nhiệt, dồn ứ xuống hạ tiêu. Nó làm cho nước tiểu chưng cô lại lâu ngày bị cặn kết đọng lại lâu ngày thành ra bệnh lý, làm cho bí tiểu, tiểu rát, đau, tiểu vàng, đỏ đục, không thông, đau lưng và đau bụng. Mạch sáp với mạch quyền. Phép trị thanh nhiệt, lợi thấp, sỏi thông. Bài thuốc: Chi tử (sao đen) 8g, núc nác 8g, mã đề 8g, mộc thông 8g, quế chi 6g, tỳ giải 8g, cam thảo 6g, liên kiều 8g.

Mỗi bệnh nhân lại ứng với một thể riêng và ứng với mỗi thể bệnh lại có một phép trị khác nhau

Thể thứ ba là huyết lâm. Do nhiệt ở tiểu trường và tạng tâm dồn xuống hạ tiêu làm tổn thương phần huyết lạc. Bệnh nhân đi tiểu ra máu, mặt đỏ, khát nước, lở miệng, người bồn chồn khó ngủ. Mạch đi nhanh. Phép trị là thanh nhiệt, lợi thấp. Bài thuốc: Sinh địa 10g, thương nhĩ tử 8g, bồ hoàng (sao đen) 8g, hoạt thạch 8g, ngưu tất 8g, chi tử (sao đen) 8g, đương quy 8g, trúc diệp (lá tre, lá trúc) 8g, chích thảo 8g, mộc thông 8g.

Về huyết lâm còn có âm hư, do bệnh lâu ngày không hết sinh ra huyết lâm. Phép trị là tư âm thanh nhiệt. Bài thuốc: Sinh địa 10gam, bạch linh 8g, sơn thù 8g, trật tả 8g, hoài sơn 8g, chi mẫu 8g, huỳnh bá (sao) 8g.

Thứ 4, thể cao lâm có triệu chứng lâm sàng thấp nhiệt đọng lại ở hạ tiêu, do thận hư không được thanh lọc. Chia ra làm hai thể: thực chứng và hư chứng. Thực chứng là nước tiểu đục như nước vo gạo, có màng mỡ trong nước tiểu, tiểu tiện khó, đi tiểu bị đau buốt. Phép trị là thanh nhiệt hóa thấp. Bài thuốc: Xuyên tỳ giải 8g, huỳnh bá 8g, thạch xương bồ 8g, phục linh 8g, bạch truật 8g, liên tâm 8g, sa tiền tử 8g, đan sâm 8g.

Về thể hư chứng, triệu chứng lâm sàng: do người lao lực quá độ, do phần thận hư yếu, nước tiểu có màng mỡ giống như váng dầu, người mệt mỏi, rã rời không sức. Phép trị: bổ thận cố tinh. Bài thuốc: Sinh địa 10g, hoài sơn 8g, sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g, đơn bì 8g, huỳnh bá 8g, thổ ti tử 8g, khiếm thực 8g, liên tu (râu búp sen) 8g, mẫu lệ 8g, xuyên tỳ giãi 8g, sa tiền 8g, liên tâm 8g, bạch truật 8g, đan sâm 8g.

Thể sau cùng là thể khí lâm. Triệu chứng lâm sàng, do khí trễ, khí hóa, khí hư. Về triệu chứng của những bệnh nhân khí trễ thì khí làm hạ hãm ở hạ tiêu, bàng quang của bệnh nhân bị căng đầy. Phần bụng ở dưới trướng lên, đi tiểu không hết còn sót lại bên trong. Phép trị thông lâm lý khí. Bài thuốc chủ trị cho những bệnh nhân này gồm: Chích thảo 8g, xích thược 8g, dương bất lưu hành 8g, phù mạch thảo 8g, hoạch thạch 8g, trầm hương 8g, đương quy 8g, bạch truật 8g.

Về khí hóa, triệu chứng: phần khí dồn xuống dưới rốn gây căng tức ở bàng quang căng cứng. Phép trị thông lâm lý khí. Bài thuốc: Cù mạch thảo, chỉ xác, đương quy, đại khúc bì, kiết cánh, quế nhục, xạ can, hoàng liên, khương hoạt, khiên ngưu (hắc sửu), huyền hồ, mộc thông.

Về thể khí hư, triệu chứng lâm sàng là do khí hư ở bàng quang không lưu thông được. Phép trị là bổ khí. Bài chủ trị là Bổ Trung Ích Khí gia giảm: Phòng đảng sâm 12g, bạch truật 8g, sài hồ 8g, thăng ma 8g, huỳnh kỳ (chích) 8g, đương quy 10g, trần bì 8g, phục linh 10g, ngưu tất 8g, đỗ trọng 8g. Sắc uống ngày hai lần trưa – tối.

Cùng với việc điều trị, bệnh nhân cần kiêng giữ và tập luyện để việc điều trị được rút ngắn và hiệu quả.

Văn Nguyễn

Gửi phản hồi